03-02-2026
Lượt xem: 352
Tư vấn chuyên môn bài viết
BS.CK1 TRẦN ĐÌNH VŨ
Trung Tâm Y Khoa Sài Gòn - Saigon Medic
Mục lục
BS.CKI Trần Đình Vũ
Hoạt động thể lực (Physical activity) là bất kỳ các chuyển động của cơ thể được tạo ra bởi hệ cơ xương mà đòi hỏi phải tiêu hao năng lượng, bao gồm các hoạt động phổ biến như đi bộ, chạy bộ, đạp xe, hoạt động thể thao, ngoài ra còn có cả các hoạt động trong khi làm việc, thực hiện các công việc gia đình, đi du lịch, và tham gia vào các hoạt động giải trí khác.
Thuật ngữ "hoạt động thể lực" không nên nhầm lẫn với "tập thể dục” bởi vì tập thể dục bao gồm một loạt các động tác có kế hoạch, cấu trúc lặp đi lặp lại và nhằm mục đích cải thiện hoặc duy trì sức khỏe và chức năng của cơ thể. Trong khi hoạt động thể lực bao hàm cả tập thể dục và những hoạt động không có kế hoạch, không có cấu trúc, được thực hiện ngẫu nhiên và không có mục đích tác động cụ thể lên một cơ quan hay hệ cơ quan nào cả.

Không hoạt động thể lực có liên quan đến nhiều tác động xấu đến sức khỏe, bao gồm tăng nguy cơ tử vong toàn bộ, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do tim mạch và đột quỵ. Hướng dẫn về hoạt động thể lực cho người Mỹ năm 2008 đưa ra một đánh giá sâu rộng và kết luận rằng đàn ông và phụ nữ hoạt động thể lực thường có nguy cơ đột quỵ hoặc tử vong thấp hơn từ 25% đến 30% so với những người ít hoạt động thể lực.
Những lợi ích dường như đến từ nhiều hoạt động khác nhau, bao gồm hoạt động thể lực trong thời gian rảnh rỗi, hoạt động nghề nghiệp và đi bộ. Nhìn chung, mối quan hệ giữa hoạt động và đột quỵ không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác hoặc giới tính, nhưng một số dữ liệu cho thấy mối liên hệ giữa các yếu tố này và mức độ hoạt động.
Mối quan hệ giữa số lượng hoặc cường độ hoạt động thể lực và nguy cơ đột quỵ vẫn chưa được giải quyết, bao gồm cả khả năng hoạt động tình dục. Một nghiên cứu cho thấy, ở phụ nữ lợi ích giảm nguy cơ đột quỵ là 18% và 28% khi hoạt động thể lực ở cường độ trung bình và cường độ cao so với không hoạt động thể lực hoặc hoạt động nhẹ; ở nam giới lợi ích giảm nguy cơ đột quỵ khi hoạt động thể lực trung bình là 35% và hoạt động thể lực cường độ cao là 28% so với không hoạt động thể lực hoặc hoạt động nhẹ.

Vai trò của hoạt động thể lực đối với việc giảm nguy cơ bị đột quỵ là do nó giúp làm giảm huyết áp và kiểm soát các yếu tố nguy cơ khác đối với bệnh tim mạch, bao gồm đái tháo đường và giảm trọng lượng cơ thể dư thừa.
Hoạt động thể chất cũng làm giảm hoạt động của fibrinogen và tiểu cầu trong huyết tương, đồng thời nâng cao hoạt động của chất kích hoạt plasminogen trong mô huyết tương và tăng nồng độ cholesterol HDL.
Hoạt động thể lực cũng có thể tạo ra những tác động tích cực đến sức khỏe bằng cách tăng tuần hoàn các cytokine chống viêm, bao gồm chất đối kháng thụ thể interleukin-1 và interleukin-10 và điều chỉnh chức năng miễn dịch theo những cách khác.
Hướng dẫn hoạt động thể lực năm 2008 cho người Mỹ khuyến nghị người lớn nên tham gia ≥150 phút/tuần với cường độ vừa phải (ví dụ: đi bộ nhanh) hoặc 75 phút/tuần hoạt động thể lực hiếu khí cường độ mạnh (ví dụ: chạy) hoặc kết hợp tương đương giữa hoạt động hiếu khí cường độ vừa phải và mạnh mẽ. Những hướng dẫn này cũng lưu ý rằng một số hoạt động thể lực còn tốt hơn là không hoạt động thể lực và những người trưởng thành tham gia bất kỳ hoạt động thể lực nào đều đạt được một số lợi ích về sức khỏe.
Hướng dẫn AHA/ACC năm 2013 về lối sống nhằm giảm nguy cơ tim mạch khuyến khích hoạt động thể lực vừa phải đến mạnh ở mức ít nhất 40 phút mỗi lần, thực hiện ít nhất 3 đến 4 ngày/tuần nhằm mục đích giảm huyết áp và cải thiện tình trạng lipid.
Dưới đây là một số hoạt động điển hình cho các nhóm hoạt động thể lực:
- Ít hoạt động thể lực: ngồi, nằm.
- Hoạt động thể lực nhẹ: đi bộ chậm, đi xung quanh nhà,…
- Hoạt động thể lực trung bình: đi bộ nhanh, chạy bộ, bơi nhẹ, leo cầu thang,…
- Hoạt động thể lực nặng: chạy nhanh, đạp xe nhanh, chạy nước rút,…

KẾT LUẬN:
1. Lối sống ít vận động có liên quan đến một số ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, bao gồm tăng nguy cơ đột quỵ; hoạt động thể lực cường độ trung bình hoặc cao giảm nguy cơ đột quỵ tiên phát 25-30%.
2. Người trưởng thành khỏe mạnh nên thực hiện hoạt động thể lực cường độ vừa phải đến mạnh ít nhất 40 phút/ngày, 3 đến 4 ngày/tuần.
Copyright 2024® by SAIGON MEDIC. All rights reserved.
Các thông tin trên website saigonmedic.com chỉ dành cho mục đích tham khảo, tra cứu. Khuyến nghị Quý khách hàng không tự ý áp dụng, nên liên hệ bác sĩ để được tư vấn.