Ung thư chủ mô thận - nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và điều trị

Trung tâm Y khoa Sài Gòn Medic
Chuyên khoa: TIẾT NIỆU - NAM KHOA - LGBT

26-11-2025

Lượt xem:  390

Ths.Bs BÙI VĂN KIỆT

Tư vấn chuyên môn bài viết

Ths.Bs BÙI VĂN KIỆT

Trung Tâm Y Khoa Sài Gòn - Saigon Medic

Mục lục

    Ung thư thận ảnh hưởng khoảng 3 trên 10.000 người, dẫn đến 32.000 trường hợp mắc mới ở Mỹ mỗi năm và khoảng 12.000 người ở Mỹ chết vì ung thư thận. Xảy ra phổ biến nhất ở những ở tuổi 50-70, và điển hình ảnh hưởng ở nam giới.

    Những nhân tố gây nên nguy cơ ung thư chủ mô thận

    • Có thói quen hút thuốc lá nhiều.

    • Di truyền

    • Điều trị chạy thận nhân tạo (lọc máu ngòai thận): ở những người suy thận giai đọan cuối

    • Bệnh Hippel-Lindau. Triệu chứng đầu tiên thường là có máu trong nước tiểu. Đôi khi có liên quan đến cả hai thận. Ung thư lan rộng một cách dễ dàng, phần lớn thường tới phổi và các cơ quan nội tạng khác.

    Giải phẫu bệnh và phân giai đoạn

    1. Bướu lành

    Rất hiếm gồm các loại như: Adenoma, Hémagioma, Lipoma myoma angiomyolipoma nearofibroma. Các loại Bướu này thường có kích thước nhỏ dưới 1-2cm đường kính. Những Bướu có kích thước lớn hơn có biểu hiện lâm sàng giống như Bướu ác tính mà chỉ có thể chẩn đoán phân biệt được nhờ xét nghiệm giải phẫu bệnh khối Thận có Bướu đã cắt.

    2. Bướu ác tính

    . Ở trẻ em

    Có nguồn gốc từ trung phôi bào Thận nên được gọi là Nephroblastoma hay Bướu Wilm. Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn nên chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn khi bướu đã lớn. Các triệu chứng có thể là tiểu máu vi thể, cao huyết áp, sốt, tăng hồng cầu hay bạch cầu.

    . Ở người lớn

    Bướu thận thường thuộc loại Adenocarcinoma hay bướu Grawitz.

    Giải phẫu bệnh và tiến triển  

    Bướu thường có đường kính trên 3cm và nằm một trong hai cực của Thận. Khi Bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận gây biến dạng, lệch hướng đài thận, Bể Thận và mạch máu. Cả tĩnh mạch chủ lẫn tĩng mạch Thận có thể bị xâm lấn, vì vậy có thể gây hội chứng Thận hư và rối loạn chức năng gan. Đôi khi Bướu ăn dọc tĩnh mạch chủ dưới lên đến nhĩ thất phải. Khi tĩnh Thận bị bế tắc có thể gây trướng tĩnh mạch tinh. Nếu Bướu phát triển cực lớn có thể đẩy lệch các cơ quan trong ổ bụng như Dạ dày, Ruột non, Lách hoặc đẩy cơ hoành lên trên hoặc xâm lấn cả các cơ quan lân cận như Tá tràng, Cơ lưng. Vi thể các tế bào Bướu dạng tế bào ống Thận mà độ biệt hoá nói lên độ ác tính của Bướu, Tế bào càng kém biệt hoá độ ác tính càng cao.

    Ngoài ra Thận cũng có thể bị di căn từ một Bướu nguyên phát ở nơi khác trong cơ thể nhất là Bướu phế quản.

    Di căn của Bướu Thận thực hiện theo đường máu để đi đến Gan, Phổi, Xương, Não.

    Phân giai đoạn

     

    Giai đoạn tiến triển của ung thư thận

    Triệu chứng lâm sàng

    Có tam chứng cổ điển là tiểu máu, đau và khối u.

    - Tiểu ra máu: Thường đại thể và không kèm cảm giác đau, nó có thể xuất hiện đột ngột rồi tự biến đi mà không liên quan đến điều trị. Màu nước tiểu khác thường (sẫm, hay nâu, váng)

    - Đau: Có thể là triệu chứng đầu tiên nhưng cũng thường là biểu hiện muộn. Có thể đau tức vùng hông hay đau bão Thận hoặc các triệu chứng tiêu hoá, đường mật do sự xâm lấn hay đẩy lệch các cơ quan này.

    - Khối u: khi khám thấy thường là bệnh ở giai đoạn muộn vì Thận nằm khá sâu và cao, nhất là Thận trái.

    Khi Bướu cố định không di động có nghĩa là đã xâm lấn các cơ quan lân cận, nếu tĩnh mạch chủ bị chèn ép sẽ làm xuất hiện đột ngột nang nước tinh mạc, trướng tĩnh mạch tinh hoặc các tĩnh mạch trên bụng dãn nở giống như trong tăng áp tĩnh mạch cửa do xơ gan.

    Có thể nghe thấy âm thổi tâm thu trên vùng Bướu, Tim lớn cao huyết áp tâm trương do có dò động mạch - tĩnh mạch.

    Đôi khi Bướu Thận chỉ cho những biểu hiện mơ hồ như sốt nhẹ kéo dài, sụt cân, dễ mệt, thiếu máu hoặc ghi nhận khối bướu vùng hông mà không có triệu chứng nào khác.

    Ngoài ra bướu có thể chỉ biểu hiện bằng các dấu hiệu của di căn như hạch thượng đòn, phù hai chân gan lớn

    Chẩn đoán

    . Siêu âm bụng và thận: Cấu trúc ÉCHO dầy hay hỗn hợp, bờ giới hạn rõ hay không, đều hay không đều tuỳ theo độ xâm lấn.

    - Siêu âm mạch máu cần xem thêm TM chủ.

    - Siêu âm có thể phát hiện hạch cạnh ĐM chủ do di căn.

    . Chụp đông mạch mạch thận

     

    Hình ảnh chụp động mạch thận chẩn đóan ung thư thận

    . CT, Chụp cộng hưởng từ (MRI) vùng bụng có thể cho thấy một khối u ở thận

    Các xét nghiệm sau đây có thể được thực hiện để xem liệu có sự lan rộng của ung thư hay không.
     

     

    Hình ảnh chụp CT và MRI thận chẩn đóan ung thư thận

    . X Quang ngực hoặc CT có thể thấy một khối ung thư di căn

    Khối u phổi T do di căn từ ung thư

    Điều trị ung thư chủ mô thận

    . Các nguyên tắc điều trị bướu thận:

    - Bướu lớn: luôn luôn được thực hiện cắt thận triệt để (Redical Nephrectomy) nếu được.

    - Bướu nhỏ dưới 5cm: có thể điều trị phẫu thuật bảo tồn nhất là bướu trên thận độc nhất, bướu tái phát trên thận còn lại sau khi thận kia đã bị cắt hoặc thận không bướu không còn chức năng: Cắt bướu đơn thuần hay cắt rộng quanh bướu.

    - Đối với bướu còn giới hạn T1, T2 No Mo: các nghiên cứu cho thấy tiên lượng của hai nhóm bệnh nhân có nạo hạch và không nạo hạch đều giống nhau, vì vậy trong trường hợp này chỉ cần cắt bỏ thận triệt để.

    - Cắt bỏ hay không cắt bỏ tuyến thượng thận:

    .Bướu nhỏ, nằm cực dưới thận có thể không cần cắt bỏ tuyến thượng thận.

    .Bướu ở những vị trí khác dù nhỏ: cần phải cắt bỏ tuyến thượng thận phối hợp.

    .Sự xâm lấn của bướu vào tĩnh mạch chủ dưới không phải là một chống chỉ định phẫu thuật. Cần thực hiện siêu âm phối hợp bụng và tim để đánh giá chồi bướu, hạch, di căn và chiều cao của chồi bướu trong tĩnh mạch chủ dưới. CT-SCAN không giúp nhiều trong chẩn đoán này. Với RMN, ta có thể thấy toàn bộ tĩnh mạch chủ dưới và từ đó phân biệt được ba mức xâm lấn của bướu thận vào tĩnh mạch chủ :

    - C1: Xâm lấn tĩnh mạch chủ dưới gan

    - C2: Xâm lấn lên đến đoạn tĩnh mạch chủ dưới gan và cơ hoành.

    - C3: Xâm lấn lên đến xoang tim

    -Trong trường hợp C(3) có hai  cách để thực hiện phẫu thuật :

    - Hoặc thực hiện dưới tuần hoàn ngoài cơ thể CEC: rất tốn kém.

    - Hoặc kiểm soát tĩnh mạch chủ dưới: thời gian kẹp tĩnh mạch chủ dưới an toàn là dưới 20 phút, nếu kẹp dưới 45 phút có nguy cơ suy thận cấp hậu phẫu, còn kẹp trên 45 phút nguy cơ tử vong rất cao.

     

    Hình 5: Bướu thận P xâm lấn TM chủ dưới doạn dưới gan.

    . Phẫu thuật

    • Phẫu thuật cắt thận tận gốc:
      Phẫu thuật hiện nay vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu cho ung thư thận còn khu trú. Nguyên tắc chính của phẫu thuật này là khống chế mạch máu cuống thận trước để phòng ngừa phát tán tế bào ung thư trong lúc mổ, đồng thời bóc tách lấy trọn khối gồm: thận, khối u, bao Gerota, mỡ quanh thận, niệu quản lưng và có thể kèm theo tuyến thượng thận cùng bên.

    • Phẫu thuật cắt bỏ tổ chức di căn:
      Di căn có thể xuất hiện 10-15 năm sau phẫu thuật và có thể ở dạng di căn độc nhất. Do đó, nếu phát hiện được di căn độc nhất ở phổi, xương, thì có thể thực hiện thêm phẫu thuật cắt bỏ di căn.

    • Các trường hợp cắt thận bán phần, bóc bướu:
      Có thể áp dụng khi tổn thương bướu nhỏ hơn 4 cm hoặc ung thư phát triển ở cả hai thận hoặc bướu trên thận độc nhất. Nếu để lại 20% đơn vị thận, bệnh nhân vẫn có khả năng sống sau mổ.

    . XẠ TRỊ:  tạm bợ, cầm máu, giảm đau, cải thiện triệu chứng ở não, xương, phần mềm…

    . LIỆU PHÁP TÒAN THÂN: khi di căn, tái phát, hoặc quá chỉ định phẫu thuật.

    -Điều trị bước 1:

    .Interleukin-2 (IL-2)

    .Interferon (IFN)

    .Kết hợp IL-2 và IFN

    .Điều trị nhắm trúng đích :

           Sunitinib, sorafenib, pazopanib, temsirolimus, everolimus

           Bevacizumab kết hợp với IL-2 hoặc IFN

    .Hóa trị (chỉ áp dụng cho trường hợp không phải tế bào sáng)

    Gemcitabine hoặc floxuridine hoặc 5-FU hoặc doxorubicine (sarcomtoid)                         

    - Điều trị bước 2: Sunitinib, sorafenib, pazopanib, temsirolimus, everolimus, bevacizumab

    -Bệnh tái phát :

    Carcinome TB sáng : Điều trị tòan thân bươc 1 hoặc chăm sóc giảm nhẹ.

    Carcinome không phải TB sáng : Điều trị tòan thân bươc 1 hoặc chăm sóc giảm nhẹ. Điều trị bước 1 không áp dụng phác đồ IL-2 hoặc IFN. Hóa trị trong trương hợp sarcomatoid bằng phác đồ : gemcitabine- doxorubicine.

    Tiên lượng sống còn của ung thư thận

    Những khác nhau về kết quả tùy thuộc vào mức độ di căn. Tỉ lệ sống 5 năm là khoảng 60-75% nếu khối u vẫn ở trong các giai đoạn sớm và chưa lan rộng ra bên ngoài thận khi được chuẩn đoán. Nếu đã di căn tới các hạch, thì tỉ lệ sống 5 năm là từ 5-15%. Còn nếu đã lan rộng tới các nội tạng khác, tỉ lệ sống 5 năm là dưới 5%

     

     

    Đặt lịch khám

    Copyright 2024® by SAIGON MEDIC. All rights reserved.

    Các thông tin trên website saigonmedic.com chỉ dành cho mục đích tham khảo, tra cứu. Khuyến nghị Quý khách hàng không tự ý áp dụng, nên liên hệ bác sĩ để được tư vấn.