NANG NIỆU QUẢN

Trung tâm Y khoa Sài Gòn Medic
Chuyên khoa: TIẾT NIỆU - NAM KHOA - LGBT

01-12-2025

Lượt xem:  78

Ths.Bs BÙI VĂN KIỆT

Tư vấn chuyên môn bài viết

Ths.Bs BÙI VĂN KIỆT

Trung Tâm Y Khoa Sài Gòn - Saigon Medic

Mục lục

    NANG NIỆU QUẢN

    Nang niệu quản là tình trạng dãn thành nang giả của đoạn niệu quản tận dưới niêm mạc bàng quang. Bệnh có thể gặp bất kì tuổi nào, trẻ nữ gặp nhiều hơn nam, tỉ lệ nữ/nam là 3/1 – 6/1. Tỉ lệ mắc bệnh ước tính là 1/5000 – 1/12.000 trẻ vào viện (Husmann, 1999).

    Phân loại

    Nang niệu quản có thể nằm hoàn toàn trong lòng bàng quang hoặc có một phần trong bàng quang và một phân nằm ngoài bàng quang lan rộng về phía niệu đạo. Phân loại của Husmann (1999):

    - Nang niệu quản trên niệu quản đơn.

    - Nang niệu quản trên thận - niệu quản đôi, nang niệu quản thuộc niệu quản dẫn lưu đài trên.

    - Nang niệu quản trong lòng bàng quang: nang nằm hoàn toàn trong lòng bàng quang, thường xuất hiện ở các trường hợp thận - niệu quản đơn.

    - Nang niệu quản lạc chỗ: nang có một phần nằm ở cổ bàng quang hoặc niệu đạo, thường xuất hiện ở các trường hợp thân niệu quản đôi, khi xuất hiện ở thận - niệu quản đơn thường là ở nam.

    - Nang niệu quản dạng manh tràng: là dạng đặc biệt của nang niệu quản lạc chỗ, miệng niệu quản nằm trong bàng quang nhưng môt phần nang lan rộng theo đường dưới niêm mạc xuống cổ bàng quang hoặc niệu đạo. Điều này có thể dãn đến tiểu không tự chủ hay tắc niêu đạo.

    Lâm sàng

    - Nhiễm khuẩn đường tiểu thường gặp.

    - Rối loạn đi tiểu, tiểu đau, tiểu khó, tiểu máu hoặc tiểu tắc từng lúc. Tiểu dễ hay khó phụ thuộc vào tư thế.

    - Tồn đọng nước tiểu sau khi tiểu.

    - Bí tiểu: là triệu chứng hay gặp nhất ở trẻ nữ (Mollar, 1984). Ở trẻ sơ sinh, nổi bật nhất là cầu bàng quang do niệu đạo hay cổ bàng quang bị tắc.

    - Tiểu không tự chủ (rỉ nước tiểu): có thể gặp khi nang to làm cổ bàng quang dãn rộng, cản trở chức năng bình thường của cơ thắt niệu đạo và/ hoặc do viêm bàng quang phối hợp.

    - Nang niệu quản sa ra ngoài: hiếm gặp. Ở nam, khối sa không bao giờ vượt quá vách tiết niệu sinh dục, vì vậy chỉ gây tắc niệu đạo hoàn toàn hoặc không hoàn toàn. Ở nữ, khối nang có thể sa ra ngoài to hay nhỏ, màu hồng nhạt, nhẵn, đều và có thể có chỗ chảy máu.

    Cận lâm sàng

    - Siêu âm: phát hiện nang có ranh giới rõ trong lòng bàng quang tiếp nối với một niệu quản dãn, hay thấy hình ảnh thận - niệu quản đôi và ứ nước phần cực trên thận.

    - Chụp bàng quang - niệu đạo khi đi tiểu: có vùng khuyết hình tròn, bờ đều và nhẵn (phần không ngấm thuốc) của bàng quang, có thể thấy hình ảnh ngược dòng vào niệu quản, tình trạng cổ bàng quang và niệu đạo. Ngược dòng niệu quản cực dưới thận thường gặp (Feldman and Lome, 1981; Caldamone and Duckett, 1984), và chiếm khoảng 49% các ngược dòng (Pfister ,1998).

    - Chụp niệu đồ tĩnh mạch: phát hiện hệ thống thân- niệu quản đôi, chức năng thận, khi thuốc xuống bàng quang có thẻ thấy hình ảnh nang.

    - Chụp thận đồ bằng đồng vị phóng xạ: đánh giá chức năng thận chính xác.

    - CT scan hay MRI hệ niệu: cho phép thấy hình ảnh thận - niệu quản đôi, nang niệu quản.

    - Soi bàng quang: thấy hình ảnh trực tiếp nang niệu quản, tình trạng cổ bàng quang... Kết hợp bơm thuốc vào nang niệu quản chụp hình bể thận, niệu quản.

    Biến chứng

    - Thận ứ nước

    - Sỏi niệu

    - Suy thận khi nang niệu quản gây tắc nghẽn 2 bên.

    Điều trị

    * Điều trị nang niệu quản trên thận niệu quản đơn.

    - Mục tiêu điều trị: bảo tồn thận khi thận còn chức năng, giải quyết tắc nghẽn nhưng không gây ngược dòng bàng quang niệu quản. Phẫu thuật cắt thận - niệu quản khi thận hoàn toàn mất chức năng.

    - Xẻ nang niệu quản qua nội soi được sử dụng thay thế mổ mở cắt chỏm nang niệu quản:

    + Đây là biện pháp đơn giản, an toàn.

    + Nang niệu quản được rạch khoảng 2-3 mm ở phần thấp hoặc chọc thủng bằng điện cực từ 1-2 lổ. Monfort (1985) đã cắt nang niệu quản cho các trường hợp sơ sinh và không thấy có ngược dòng sau mổ. Rich (1990) đã cắt nội soi từ phía bên thay vì cắt trung tâm, vì vậy đã tạo van chống ngược dòng.Gonzales (1992) đa số các trƣờng hợp rạch u bằng nội soi sẽ giải quyết được vấn đề tắc nghẽn nước tiểu, làm chức năng thận cải thiện nhanh chóng, tình trạng nhiễm khuẩn sẽ giảm bớt hoặc hết. Husmann (1999) 90% bệnh nhân đƣợc điều trị thành công bằng nội soi.

    + Nếu ngược dòng bàng quang niệu quản vẫn còn tồn tại sau xẻ nang niệu quản nội soi: mổ cắm lại niệu quản bàng quang. Lúc này có nhiều thuận lợi vì niệu quản đã co hồi nhỏ hơn.

    + Sau xẻ nang NQ nội soi, chức năng thận kém không hồi phục, cần tiến hành cắt thận - niệu quản.

    * Điều trị nang niệu quản trong thận niệu quản đôi.

    - Mục đích điều trị: giải quyết các biến chứng cấp tính của nhiễm khuẩn niệu, tình trạng bế tắc nước tiểu, bảo tồn nhu mô thận có thể cứu được, ngăn chặn ngược dòng và trách các biến dạng của nền bàng quang và niệu đạo.

    - Phương pháp phẫu thuật có nhiều lựa chọn, tùy theo các yếu tố sau:

    + Kích thước và hình dáng của nang niệu quản.

    + Tình trạng nhu mô của cực trên thận (loạn sản, hay ứ nước).

    + Tình trạng nhu mô của cực dưới thận (bảo tồn được hay không).

    + Ngược dòng bàng quang phôi hợp và mức độ ngược dòng bàng quang.

    + Tuổi của bệnh nhân và hình thái lâm sàng.

    - Các hướng can thiệp: can thiệp và cả thận và bàng quang, chỉ can thiệp vào thận và niệu quản, chỉ can thiệp vào bàng quang.

    - Các phương pháp phẫu thuật:

    + Cắt thận: cắt thận toàn bộ tiến hành 5-10% các trường hợp nang niệu quản có kết hợp với niệu quản đôi vì toàn bộ thận mất chức năng do loạn sản, ứ nước hoặc viêm đài bể thận phối hợp (Woodward, 1997). Cắt bỏ niệu quản càng thấp càng tốt, nếu không có ngược dòng vào niệu quản thì để ngõ để thoát lƣu nƣớc tiểu làm xẹp nang.Kết hợp cắt chỏm nang niệu quản nếu nang quá to.

    + Cắt đơn vị thận trên cùng với niệu quản.

    + Nối bể thận với bể thận hoặc nối niệu quản với bể thận: là phương pháp điều trị bảo tồn chức năng cực thận trên.

    + Cắm lại cả hai niệu quản sau khi cắt bỏ nang niệu quản: chỉ định cho các trường hợp đơn vị thận cực trên còn chức năng tốt và thƣơng tổn giải phẫu không nặng. Phẫu thuật tốt nhất cho các bệnh nhân có ngược dòng niệu quản dưới nặng (Woodward, 1997). Sau khi cắt bỏ nang niệu quản, cắm lại 2 niệu quản theo kỹ thuật Cohen.

    + Phẫu thuật sửa chữa toàn bộ: gồm cắt bỏ toàn bộ nang niệu quản, sửa lai cổ bàng quang và vùng tam giác bàng quang, và trồng lại niệu quản.

    Theo dõi:

    - Chức năng thận, chức năng bàng quang

    - Độ ứ nước thận

    - Hẹp miệng niệu quản

    - Trào ngược bàng quang – niệu quản.

    Trung tâm Tiết niệu và Nam khoa Saigon Medic.

    Đặt lịch khám

    Copyright 2024® by SAIGON MEDIC. All rights reserved.

    Các thông tin trên website saigonmedic.com chỉ dành cho mục đích tham khảo, tra cứu. Khuyến nghị Quý khách hàng không tự ý áp dụng, nên liên hệ bác sĩ để được tư vấn.