06-02-2026
Lượt xem: 131
Tư vấn chuyên môn bài viết
Saigon Medic
Trung Tâm Y Khoa Sài Gòn - Saigon Medic
Mục lục
UNG THƯ TUYẾN TỤY
Ung thư tuyến tụy là một bệnh không thường gặp, tuy nhiên vì bệnh thường được phát hiện ở gai đoạn trễ nên có tiên lượng rất xấu. Tiên lượng tùy thuộc theo giai đoạn bệnh lúc chẩn đoán nhưng nhìn chung tỷ lệ sống thêm 5 năm: < 2%). Ung thư tuyến tụy chủ yếu là ung thư biểu mô tuyến ống của tuyến tụy ngoại tiết, ước tính có khoảng 65000 trường hợp và 51000 ca tử vong hàng năm ở Hoa Kỳ; theo thống kê ở VN năm 2022 tương ướng là 1251 ca mắc mới và 1226 ca tử vong.
Khoảng 80% xảy ra ở đầu tuyến (ung thư đầu tụy). Ung thư biểu mô tuyến xuất hiện ở độ tuổi trung bình là 55 và gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới 1,5 đến 2 lần. Các yếu tố nguy cơ bao gồm hút thuốc, tiền sử viêm tụy mạn tính, béo phì, uống nhiều bia rượu và phơi nhiễm hóa chất. Di truyền đóng một vai trò nào đó; 10% bệnh ung thư tụy có liên quan đến di truyền.
Các triệu chứng của ung thư tuyến tụy như đau bụng và sụt cân là những triệu chứng không đặc hiệu, vì thế dẫn đến chẩn đoán muộn khi bệnh đã lan rộng. Vào thời điểm chẩn đoán, 90% số bệnh nhân ung thư đã tiến triển tại chỗ, xâm lấn tới các cấu trúc sau phúc mạc, lan đến hạch vùng hoặc di căn đến gan và phổi.
Ung thư biểu mô tuyến ở đầu tụy gây vàng da tắc mật (có thể gây ngứa) ở 80 đến 90% số bệnh nhân. Ung thư ở thân và đuôi có thể gây tắc nghẽn tĩnh mạch lách, dẫn đến lách to, giãn tĩnh mạch dạ dày và giãn tích mạch thực quản và xuất huyết tiêu hóa.
Ung thư tụy gây ra bệnh tiểu đường ở một nửa số bệnh nhân, dẫn đến các triệu chứng không dung nạp glucose (ví dụ: đái nhiều và khát nhiều). Ung thư tụy cũng có thể gây trở ngại cho việc sản sinh ra các enzym tiêu hóa của tụy (suy tụy ngoại tiết) ở một số bệnh nhân và có khả năng tiêu hóa thức ăn và hấp thụ chất dinh dưỡng. Tình trạng kém hấp thu này gây ra chướng bụng và đầy hơi và tiêu chảy ra nước, nhờn và/hoặc có mùi hôi, dẫn đến sụt cân và thiếu hụt vitamin.
(1).jpg)
Chụp CT hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) để chẩn đoán; nếu cần thì chọc hút tế bòa bằng kim nhỏ qua siêu âm nội soi (EUS/FNA).
Kháng nguyên CA 19-9 để theo dõi (không dùng để sàng lọc)
Bệnh nhân vàng da tắc mật có thể được thực hiện nội soi mật tụy ngược dòng (endoscopic retrograde cholangiopancreatography, ERCP) là thủ thuật chẩn đoán đầu tiên. Trong ERCP, thường đặt stent để làm giảm tắc nghẽn đường mật và cho phép thực hiện bất kỳ phương pháp điều trị trước phẫu thuật nào.
Các xét nghiệm thường quy cần được thực hiện. Tăng phosphatase kiềm và bilirubin cho thấy tắc nghẽn đường mật hoặc di căn gan. Kháng nguyên liên quan đến tụy CA 19-9 có thể được sử dụng để theo dõi bệnh nhân được chẩn đoán mắc ung thư biểu mô tuyến tụy và để sàng lọc những người có nguy cơ cao (ví dụ: những người bị bệnh viêm tụy di truyền; ≥ 2 thành viên huyết thống bậc một trong gia đình bị bệnh ung thư tụy, hội chứng Peutz-Jeghers, hoặc đột biến BRCA2 hoặc HNPCC). Tuy nhiên, xét nghiệm này không đủ độ nhạy hoặc độ đặc hiệu để sử dụng cho sàng lọc quần thể, nồng độ CA 19-9 không phải lúc nào cũng tăng ở những bệnh nhân đã được chứng minh là ung thư tụy. Nồng độ tăng cao sẽ giảm khi điều trị thành công; sự gia tăng tiếp theo cho thấy sự tiến triển. Nồng độ amylase và lipase thường là bình thường.
Khoảng 80 đến 90% số ca ung thư không thể phẫu thuật cắt bỏ được tại thời điểm chẩn đoán vì di căn hoặc vì xâm lấn vào các mạch máu lớn.
Vị trí của khối u trong tụy sẽ quyết định loại thủ thuật sẽ được thực hiện: Các khối u ở đầu tuyến tụy được cắt bỏ bằng thủ thuật Whipple. Các khối u ở cổ, thân hoặc đuôi thường được cắt bỏ bằng phẫu thuật cắt tụy ở đoạn xa, trong đó đầu tụy được giữ lại.
Việc sử dụng hóa trị hoặc hóa xạ trị liệu bổ trợ trước phẫu thuật ngày càng trở nên phổ biến vì tính chất tiến triển mạnh mẽ của căn bệnh này và do bệnh nhân khó dung nạp hóa trị sau phẫu thuật tụy.
Nếu một khối u không thể cắt được khi mổ và tắc nghẽn dạ dày tá tràng hoặc ống mật đang hiện hữu hoặc đang chờ xử lý, một cuộc phẫu thuật nối đôi dạ dày và đường mật thường được thực hiện để giảm tắc nghẽn. Ở những bệnh nhân có tổn thương và vàng da không phẫu thuật được, nội soi đặt stent ống mật làm giảm vàng da. Đặt stent tá tràng thường được thực hiện. Tuy nhiên, phẫu thuật nối thông nên được xem xét ở bệnh nhân có tổn thương không thể cắt bỏ được nếu thời gian sống kỳ vòng > 6 tháng do các biến chứng liên quan đến stent.
Ở giai đoạn cuối, hầu hết bệnh nhân đều cảm thấy đau đớn và tử vong. Do đó, điều trị triệu chứng cũng quan trọng như việc kiểm soát bệnh. Cần thảo luận về cách chăm sóc cuối đời thích hợp với bệnh nhân và gia đình.
Tham khảo MSD Manuals.
Copyright 2024® by SAIGON MEDIC. All rights reserved.
Các thông tin trên website saigonmedic.com chỉ dành cho mục đích tham khảo, tra cứu. Khuyến nghị Quý khách hàng không tự ý áp dụng, nên liên hệ bác sĩ để được tư vấn.