ĐAU ĐẦU CỤM

Trung tâm Y khoa Sài Gòn Medic
Chuyên khoa: NỘI TỔNG QUÁT

05-12-2025

Lượt xem:  134

BS.CK1 TRẦN ĐÌNH VŨ

Tư vấn chuyên môn bài viết

BS.CK1 TRẦN ĐÌNH VŨ

Trung Tâm Y Khoa Sài Gòn - Saigon Medic

Mục lục

    ĐAU ĐẦU CỤM

    KHÁI QUÁT

    Đau đầu cụm là đau đầu có cường độ đau nặng nhất trong số các đau đầu nguyên phát hay còn gọi là đau đầu lành tính. “Đau đầu cụm thì được hiểu là đau đầu một bên mức độ nặng trong khoảng thời gian ngắn. Ngoài ra còn gọi là “migrainous vuuralgia”. Một số thuật ngữ cũ được dùng cho hội chứng này bao gồm : “red migraine”, “erythroprosopalgia”, “ciliary neuralgia”, “vidian neuralgia”, “sluder’s neuralgia” hoặc “spenopalantine neuralgia”, “histaminic cephalalgia” và “erythromelalgia” of the head.

    Có sự tranh luận về người đáng được tin cậy trong việc mô tả đau đầu cụm có lẽ Nicolaas Tulp, BS. Hà Lan thế kỷ XVII đã mô tả trường hợp đầu tiên về đau đầu cụm. Năm 1745, Gerald Van Swieten đã mô tả một cách tuyệt vời về hội chứng này. Năm 1981, Sjaastad đã đưa ra lời bình luận về bài báo này. Sự mô tả của Horton thì chính xác gơn vào khoảng thời gian đó.

    Năm 1939, khi xem xét 25 bệnh nhân, Horton đã ghi nhận kinh nghiệm của họ trong điều trị hội chứng đau đầu mạch máu mới này với histamin và trình bày chi tiết. Những khám phá của họ trong những trang sau. Và tình trạng đó được biết như là “histaminic cephalgialgia” hoặc “Horton headache”. Sự liên quan với histamine xuất hiện từ sự quan sát của Horton đó là khi tiêm histamine có thể làm khởi phát đau đầu một bên trong một khoảng thời gian ngắn có kèm theo sự ­ đáp ứng của thần kinh tự chủ. Điều này xảy ra ở người có cơ địa dễ mắc các cơn đau đầu này.

    Năm 1956, Symonds đã đưa ra sự mô tả sáng sủa về hội chứng này bằng thuật ngữ “A particular Variety of Headache”. Kunkle et al đã ghi nhận rằng các cơn đau đầu có khuynh hướng xảy ra thành cụm và vì thế dùng thuật ngữ “Cluster pattern” để nhấn mạnh tính chu kỳ như là một đặc điểm lâm sàng chính của hội chứng này.

    DỊCH TỄ HỌC

    Mặc dù đau đầu cụm thì ít phổ biến hơn migraine, tần suất của bệnh vẫn còn bàn cãi. Kurdrow đã đưa ra tỷ lệ bệnh 400/100.000 dân đối với nam 80/100.000 đối với nữ. San Marino, tỷ lệ bệnh là 69/100.000 dân. Theo Minnesota, tần suất mới mắc là 15,6/100.000/ năm đối với nam và 4/100.000/năm đối với nữ.

    Đau đầu cụm là một bệnh ưu thế ở nam, ghi nhận về tỷ lệ giới tính : 5/1 và 6,7/1. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây đã ghi nhận có sự giảm trong việc ưu thế ở nam. Manzone đã ghi nhận tỷ lệ nam/nữ : 3,5/1. Tỷ lệ nam/nữ vào năm khởi phát đã giảm từ 6,2/1 trong năm 1960 ® 2,1/1 vào 1990. Ekbom và Hardebo cũng đã ghi nhận từ nghiên cứu của mình là có khuynh hướng ¯ ưu thế ở nam với khởi phát trước 1970.

    BỆNH HỌC

    Nguyên nhân chính xác và cơ chế bệnh sinh của đau đầu cụm thì chưa hiểu rõ. Bất kỳ giả thiết nào được tin cậy thì phải giải thích được 3 khía cạnh chính của hội chứng này :

    1. Đau theo sự chi phối của dây V.
    2. Kèm theo rối loạn thần kinh tự chủ cùng bên.
    3. Kiểu từng đoạn của cơn.

    Ba kết luận này đã rút ra từ đặc điểm lâm sàng của hội chứng. Đầu tiên, đau trong đau đầu cụm là đau vùng chi phối của dây VI (mắt và trán). Tiếp theo (thứ hai) là những đặc điểm của thần kinh tự chủ cùng bên. Phản ánh sự loạn chức năng của thần kinh giao cảm (sụp mi, co đồng tử và tăng tiết mồ hôi ở trán và mặt) và khởi động hệ thần kinh phó giao cảm cùng bên (tăng tiết nước mắt, sung huyết mũi, tăng tiết ở mũi). Bởi vì sự hội tụ của dây V, sợi phó giao cảm và giao cảm trong xoang hang, đây là vị trí phù hợp nhất được cho là có liên quan. Thứ ba là những cơn thường xảy ra từng đợt, cố định theo chiều kim đồng hồ và xảy ra theo mùa, do đó đã đưa ra rằng loạn chức năng tạo nhịp trung ương thì liên quan trong bệnh sinh của hội chứng này.

    Trải qua nhiều năm, đau đầu cụm đã được gọi không đúng là đau đầu mạch máu “vascular”. Mặc dù những thay đổi về vận mạch có thể xảy ra trong cơn đau đầu, Goaclsby đã cung cấp bằng chứng rằng có một tên gọi thích hợp hơn là “neurovascular” headache. Năm 1970, Ekbom và Greitz đã ghi nhận trong khi chụp mạch máu thì những thay đổi dòng máu xảy ra ở động mạch cảnh trong trong suốt cơn đau đầu. Waldenlind đã thực hiện MRA trong cơn đau đầu. PET đã cho thấy có sự tăng dòng máu (cùng bên đau đầu) ở phần xoang hang của động mạch cảnh trong. Những thay đổi dòng máu chảy trong cơn đau đầu được xem như là một hiện tượng phụ của khởi động dây V và không phải là quá trình sinh ra bệnh.

    Đặc điểm chủ yếu của đau đầu cụm là chu kỳ 24 giờ và tính chu kỳ circannual của nó. Đặc điểm này giúp cho sự tin tưởng vào giả thiết rằng : đau đầu cụm là một khiếm khuyết có cơ chế chu kỳ. Kudrow đã đưa ra chắc chắn rằng có sự giảm [testosterone]/htương trong khoảng thời gian của bệnh ở nam giới. Điều này đã được quan sát bởi những rối loạn có tính chu kỳ 24h đối với cortisol, leuteinizing hormon, hormon tăng trưởng và prolactin. Melatonin là một chất đánh dấu nhạy nhất đối với chức năng chu kỳ 24h ở người, được tạo ra bởi tuyến tùng (pineal). Sự tiết có chu kỳ của melatonin được kiểm soát bởi nhân giao thoa thị (suprachiasmatic) ở hạ đồi. Sự liên kết giữa võng mạc và hạ đồi được cho là có tạo ra nguồn ánh sáng cho chu kỳ này bình thường thì mức độ của melatonin thấp trong ngày và tăng trong những giờ có bóng tối và ngủ. Đỉnh bài tiết vào ban đêm của melatonin bị làm suy giảm trong khoảng thời gian của cơn. Bởi vì những thay đổi về thần kinh – nội tiết xảy ra trong khoảng thời gian của cơn nên vùng hạ đồi đã giữ vai trò như chìa khóa với những hiểu biết thêm nữa về đau đầu cụm.

    Bằng chứng bắt buộc nhất cho vai trò của hạ đồi trong sinh bệnh của đau đầu cụm đã được ghi nhận từ nghiên cứu PET. May et al đã cho rằng có sự khởi động ở vùng bụng hạ đồi. Cùng bên trong cơn đau đầu dạng khởi động này chưa từng được ghi nhận trong cơn đau đầu migraine hoặc đau mắt (V1) được khởi phát bởi tiêm capsaicin vào vùng trán.

    Sự khởi động PET trong vùng hạ đồi thì không thấy khi dùng Nitrogycerin được cho trên cùng bệnh nhân với đau đầu cụm trong thời gian thuyên giảm. Vì thế, khởi động vùng hạ đồi thì không đáp ứng với đau nicoceptive trong nhánh V1 và nó không là một dòng máu không đặc hiệu đáp ứng với nitroglycerin. Những nghiên cứu này đã tạo sự tin tưởng với khái niệm rằng “Lesion” trong đau đầu cụm ở trong vùng hạ đồi cùng bên.

    Những báo cáo gần đây cung cấp thông tin rằng đau trong đau đầu cụm được tạo ra từ cơ quan trung ương. Bệnh nhân bị đau đầu cụm đã trải qua phẫu thuật cắt nhánh cảm giác của dây V bên (T) thì chưa có tái phát. Bệnh nhân được gây tê ở vùng chi phối vủa dây V (T) mất phản xạ giác mạc bên (T). Các thăm khám thần kinh khác thì bình thường. MRA không cho thấy sự dãn của động mạch cảnh cùng bên trong cơn đau đầu. Thêm vào đó, phản xạ nhắm không còn. Như vậy, cả các cấu trúc ngoại biên, thần kinh hoặc mạch máu đều góp phần tạo ra cơn đau.

    DI TRUYỀN HỌC

    Không giống như đau đầu Migraine, gần đây đau đầu cụm vẫn không được xem là có liên quan di truyền. Từ 1947 ® 1985, 12 nghiên cứu đã cho thấy tiền sử gia đình trong sô 17% bệnh nhân với đau đầu cụm có những bằng chứng cho thấy yếu tố di truyền có ở anh em sinh đôi. Những nghiên cứu cho thấy 100% sự phù hợp ở anh em sinh đôi cùng một hợp tử. Russell và cộng sự đã cho thấy sự tăng 14-fold về nguy cơ của đau đầu cụm ở người có quan hệ bậc nhất với những người bệnh. Những nghiên cứu gần đây cho thấy những người có quan hệ bậc nhất với những người bệnh có nguy cơ mắc bệnh gấp 18 lần so với người bình thường, còn những người có quan hệ bậc 2 thì nguy cơ bị bệnh tăng 1-3 lần so với người bình thường.

    Yếu tố gia đình của đau đầu cụm giúp củng cố nền tảng di truyền của bệnh này. Thường là di truyền theo nhiễm sắc thể trội, một số theo nhiễm sắc thể lặn.

    Năm 2005, không có đầu mối của di truyền phân tử làm sáng tỏ cho đau đầu cụm vai trò của di truyền ty lạp thể vẫn chưa có. Khi Russell chỉ ra rõ ràng, cơn đau đầu cụm làm cho các gen kinh ion là gen ứng cử hợp lý.

    ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

    Đau đầu cụm được gọi tên như vậy vì khuynh hướng xảy ra thành từng cụm sau đó ngưng một thời gian (không có triệu chứng). Tuổi khởi phát trung bình là 28-30 trễ hơn gần 10 năm so với migraine. Đau đầu cụm có thể xảy ra ở cả người lớn và người trẻ.

    Trong cơn đau đầu cụm (dạng phổ biến nhất), các cơn đau xảy ra mỗi ngày kéo dài vài tuần hoặc vài tháng. Khoảng thời gian giảm hoặc không có cơn thời gian nghỉ này có thể kéo dài từ vài tuần đến vài năm. Thường thì sau thời gian không có cơn là một đợt các cơn khác, chưa có khoảng thời gian xảy ra nào là lần sau cùng. Dạng thường gặp trong vài năm đầu của đau đầu cụm, sự làm trầm trọng bệnh xảy ra theo mùa thường là mùa xuân hoặc mùa thu. Kudrow đã cho thấy rằng hầu hết những lần trong khoảng thời gian cụm thì bắt đầu được liên quan với số giờ ban ngày. Sự làm trầm trọng bệnh hơn xảy ra trong vòng 2 tuần sau mùa hè và đông và một vài sự làm trầm trọng bệnh trong 2 tuần có khởi phát và đền bù thời gian tiết kiệm ban ngày. Trung bình, thời gian cụm kéo dài 6 – 12 tuần và thời gian giảm triệu chứng kéo dài 12 tháng. Đau đầu cụm mãn tính thì ít phổ biến và được đặc trưng bởi cơn đau xảy ra hơn 1 năm không có thời gian giảm triệu chứng kéo dài hơn 2 tuần. Dạng mãn tính có thể tự phát hoặc tạo ra từ cơn đau đầu cụm.

    Những cơn đau thường giống nhau ở tất cả bệnh nhân một cơn đau đầu cụm kéo dài trung bình 45 – 90 phút và xảy ra 1 – 3 lần/ngày (có thể 6 – 8 lần/24h). Đau thường giới hạn ở một bên và hầu như đau cùng bên đầu trong suốt thời gian cụm. Hiếm khi, đau có thể xảy ra ở bên đối diện trong một đợt, thậm chí hiếm khi, cơn đau có thể chuyển sang bên đối diện trong vòng khoảng thời gian cụm. Điển hình đau nhiều nhất ở sau ổ mắt và vùng thái dương của bên bị ảnh hưởng và có thể lan ra vùng trán, thái dương, má và hàm. Ekbom đã mô tả cả hội chứng trên và dưới dựa trên sự lan tỏa từ vùng sau ổ mắt bị ảnh hưởng. Trong hội chứng cổ cùng bên trong hội chứng trên, đau có thể lan vào trán, thái dương hoặc vùng quanh sọ. Cường độ đau được mô tả như “boring” hoặc “tearing” và có thể như “hot poker in the eye” hoặc ‘the eye is being pushed out”.

    Điển hình trước cơn có thể có cảm giác khó chịu ở vùng bị đau. Bệnh nhân có thể đau bên ngoài vùng chi phối của dây V, cả khi trong cơn hoặc trước cơn. Cường độ đau tăng nhanh, đạt đỉnh sau 5 – 10 phút và cường độ tối đa có thể tồn tại 45 – 90 phút. Sau cơn, bệnh nhân hết đau nhưng mệt đừ.

    Gần đây, các tiền triệu được mô tả trong sự liên quan với cơn đau cụm. Những nghiên cứu sau này về những đặc trưng lâm sàng và dịch tễ học của đau đầu cụm thì có 14% bệnh nhân được ghi nhận các tiền triệu migraine.

    Khác với migraine, những bệnh nhân này thì không ngủ được trong suốt cơn đau. Những nghiên cứu gần đây, gần 93% bệnh nhân trong cơn đau được ghi nhận là không ngủ được. Hầu hết thì không chịu nằm xuống, thích đi lại, những bệnh nhân này có thể trở nên không có ý chí, bạo lực nhưng không phải không phổ biến như : đau dữ dội. Trong những cơn đau dữ dội, một vài bệnh nhân đánh mạnh đầu vào vật cứng và một số giảm bằng tập thể dục.

    Những cơn đau có thể khởi phát bởi giấc ngủ cử động mất nhanh, do đó một số bệnh nhân cố gắng thức. Tuy nhiên sự mất ngủ dẫn đến việc khởi phát nhanh hoạt động KEM, cơn thường xảy ra sau vài phút bắt đầu ngủ chu kỳ đau và ngủ không đủ có thể dẫn đến sự trầm cảm và ý nghĩ tự tử.

    Những dấu hiệu và triệu chứng tự chủ đi kèm trong cơn đau giúp thiết lập chẩn đoán của đau đầu cụm. Được tóm tắt trong bảng 1. Nhìn chung, những đặc điểm thần kinh tự chủ thì tồn tại ngắn, kéo dài trong cơn trừ khi hội chứng Horner có thể tồn tại sau cơn cấp. Mặc dù một số trường hợp thần kinh tự chủ đi kèm có thể xảy raở bệnh nhân bị đau đầu nguyên phát chẳng hạn như đau nửa mặt kịch phát mạn tính, bóc tách động mạch cảnh, khoảng thời gian và tần suất các cơn giúp phân biệt đau đầu cụm từ những đau đầu tương tự, thật quan trọng khi ghi nhận rằng những dấu hiệu và triệu chứng thần kinh tự chủ có thể không có ở 3% bệnh nhân.

    Đặc điểm Migraine cũng có thể kèm cơn đau đầu cụm. Trong nghiên cứu gần đây, Bahra đã ghi nhận 50% bệnh nhân bị nôn trong cơn, 56% sợ ánh sáng , 43% sợ tiếng ồn và 36% sợ nước.

    Nhiều bệnh nhân bị đau đầu cụm có những đặc trưng và tâm lý và thực thể được ghi nhận bởi Graham (bảng 2). Nhiều đặc điểm đặc trưng được quan sát và cho rằng có liên quan với sử dụng thuốc lá và rượu. Tuy nhiên không phải tất cả liên quan với thói quen này.

    Trước đây khi khoảng thời gian cụm bắt đầu, rượu hầu như khởi phát không đổi cơn đau đầu cụm trong vòng vài phút khi bệnh nhân trong thời gian giảm triệu chứng, rượu hiếm khi thúc đẩy cơn. Do đó hầu hết bệnh nhân bỏ rượu sớm. Cơ chế bên dưới và hoạt động kích thích của rưộu thì không được hiểu rõ. Nitroglycerin và histamine cũng hoạt động như một yếu tố khởi phát mạnh mẽ.

    Kudrow đã đề nghị cơ chế của hoạt động của nitroglycerin có thể khởi phát sự giảm nhanh sự bão hòa oxy. Vai trò của oxy không bão hòa như một yếu tố khởi phát mạnh mà đã được đề nghị trước đó bởi Dexter và Riley và Kudrow, stress, sự chán nản, dị ứng, nhạy cảm với thức ăn và những thay đổi hormon có vai trò trong bệnh sinh của đau đầu cụm.

    Graham đã đưa ra rằng chấn thương tâm sinh lý là một yếu tố quan trọng trong việc dẫn đến phát triển đau đầu cụm. Chấn thương đầu đã được nhận ra như một nguyên nhân của đau đầu cụm.

    Những dấu hiệu thần kinh ở những bệnh nhân bị đau đầu cụm, thì bình thường ngoại trừ trong một số trường hợp có hội chứng Horner cùng bên. Trong cơn, thường có viêm màng kết, tai, chảy nước mũi và nghẹt ... như có hội chứng Horner... tiết mồ hôi và phù cùng bên mặt ở vùng thái dương, má và vòm hầu thì tương đối hiếm.

     

    DIỄN TIẾN

    Ít thông tin về diễn tiến và bệnh sử tự nhiên của đau đầu cụm. Tuy nhiên những bằng chứng cho thấy rằng cả 2 dạng: dạng từng cơn và dạng mãn tính của đau đầu cụm thì thương lâu và kéo dài ở hầu hết bệnh nhân. Tuy vậy, nhiều bệnh nhân đã giảm hòan tòan hoặc kéo dài thời gian giảm bệnh.Trong khỏang 1/3 bệnh nhân với diễn tiến mạn tính, những cơn có thể tiến triển lâu dài

     

    PHÂN LỌAI

    Theo Hội Đau Đầu Quốc Tế (IHS) đã phân lọai thành đau đầu nguyên phát và thứ phát (bảng 3). Đặc điểm của đau đầu cụm được bổ sung:

    1. Tình trạng không yên và / hoặc lo lắng là một triệu chứng kèm theo.
    2. Triệu chứng thần kinh tự chủ không xuất hiện cùng bên đau đầu nếu lo lắng hoặc tình trạng không yên xảy ra trong cơn.
    3. Khoảng thời gian không có cơn trong đau đầu cụm trải qua từ 2 tuần đến 1 tháng.
    4. Thời gian giảm bệnh trong đau đầu cụm mạn tính trải qua từ 2 tuần đến 1 tháng.

      ĐẶC ĐIỂM CHẨN ĐOÁN

    Chẩn đóan đau đầu cụm là chẩn đoán lâm sàng, dực trên bệnh sử cơn, sự mô tả cơn đau, tiền sử tạm thời, yếu tố khởi phát và sự liên quan thần kinh tự chủ kèm theo. Sự leo thang nhanh của đau, thời gian ngắn của cơn và những cơn ưu thế về ban đêm là chi tiết quan trọng trong bệnh sử. Hành vi của bệnh nhân trong cơn - bối rối hoặc đi tới đi lui – là hành vi tấn công có đặc trưng trong đau đầu cụm.

    Kết quả nghiên cứuvề hình ảnh học như CT, MRI thường bình thường giữa các cơn. Trong 2 trường hợp đã nghiên trong cơn, Động mạch cảnh ở đoọan siphon xuất hiện sự co thắt hoặc bị chén ép không đều bởi sự dãn của động mạch mắt cùng bên. Ở hầu hết bệnh nhân chẩn đoán dựa vào lâm sàng là chủ yếu còn cận lâm sàng thì không cần thiết. Mặc dù sự hiếm có của những trường hợp có triệu chứng thật là thích hợp để thưc hiện hình ảnh học CT hoặc MRI. Những phương pháp này giúp đoan chắc một lần nữa cho bệnh nhân và những cơn đau dữ dội thì không liên quan với sư bất thường trong sọ thì thích hợp để lọai trừ chống chỉ định khi sử dụng thuốc. Cần khám mắt, bao gồm đo nhãn áp để loại trừ Glaucoma.

    Đau đầu cụm triệu chứng, mặc dù hiếm, cơn xảy ra giống cụm nhưng được gây ra bởi sang thương cấu trúc. Ví  dụ như răng hàm gắn chặt vào xương, adenoma tuyến yên, u màng não cạnh yên,phình động mạch cảnh,phình động mạch đốt sống, carcinoma mũi hầu, dị dạng động tĩnh mạch, K phổi di căn, u màng tủy.

    Manh mối có thể tạo ra đau đầu cụm triệu chứng với những đặc điểm không điển hình sau :

    • Không có tính chu kỳ.
    • Còn đau đầu âm ỉ giữa các cơn.
    • Đáp ứng không hoàn toàn với điều trị.
    • Có bất thường về dấu hiệu thực thể như dạng chuỗi hoặc nốt của động mạch thái dương hoặc những dấu thần kinh như co đồng tử và sụp mi.

    CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT

    Migraine có thể biểu hiện với đau đầu một bên tái phát, có thể kèm theo thần kinh tự chủ cùng bên, vài đặc điểm giúp phân biệt đau đầu cụm và migraine không giống migraine, đau đầu cụm ưu thế xảy ra ở nam, thời gian cơn ngắn 45 – 90 phút so với migraine (4 – 72h) có kèm theo triệu chứng thần kinh tự chủ, gây ra không ngủ được, không ngồi yên trong cơn và có tính chu kỳ. Chu kỳ migraine được mô tả đầu tiên bởi Medina và Diamond. Mặc dù là rối loạn có tính chu kỳ, chu kỳ migraine được đặc trưng bởi những cơn migraine điển hình mà xảy ra không có liên quan, sự liên quan mạnh mẽ. Kèm theo thần kinh tự chủ. Đau đầu hypnic có thể nhầm lẫn với đau đầu cụm. Đặc điểm giúp phân biệt đau đầu hypnic với đau đầu cụm bao gồm khởi phát quá về đêm, ưu thế ở nữ tuổi khởi phát lớn hơn, không có kèm triệu chứng thần kinh tự chủ và đau ít trầm trọng và holocephalic phổ biến hơn nửa đầu.

    Đau đầu cụm triệu chứng tồn tại thì không chắc chắn. Do đó, một số rối loạn xác đáng đề cập, viêm động mạch thái dương được đặc trưng bởi đau đầu tương đối nhẹ nhàng mà có thể tăng giảm và hết dần. Triệu chứng thêm vào có thể bao gồm đau được khởi phát bởi nhai và rối loạn thị giác như mất thị lực một mắt thoáng qua. Thông thường, có những triệu chứng hệ thống liên quan như sốt, mệt mỏi, sụt cân và đau khớp, đau đa cơ. Đau dây V được đặc trưng bởi đau kịch phát như điện giật mà kéo dài vài giây và thường một bên liên quan nhánh V2, V3. Liên quan nhánh V1 thì ít gặp. Đau có thể khởi phát bởi nhai, xúc giác hoặc ngáp. Tình trạng khác cần được xem xét bao gồm pheochromocytoma bóc tách mạch máu não (động mạch hoặc động mạch cột sống), glaucoma, viêm xoang, phình mạch trong sọ dị dạng động-tĩnh mạch, u, tổn thương cột sống cổ, thiếu máu hoặc u, ví dụ như u màng não. Do đó ở hầu hết bệnh nhân thăm khám và bệnh sử rõ ràng “red flags” đã cho thấy nguyên nhân thứ phát của đau đầu cluster-like.

    Goadsby và Lipton đã đưa ra một nhóm đau đầu nguyên phát là “Trigeminal-autonomic cephalgia” (TACs), TACs được đặc trưng bởi những cơn đau đầu ngắn, riêng biệt, đau một bên ở vùng ổ mắt – thái dương với sự liên quan với những đặc điểm thần kinh tự chủ cùng bên. Rối loạn này khác đau đầu cụm ở điểm khoảng thời gian ngắn hơn và số cơn mỗi ngày nhiều hơn (bảng 4).

    Có sự tương quan nghịch giữa thời gian của cơn và số cơn. Khi số cơn tăng thì thời gian của cơn giảm. Sự phân biệt giữa đau đầu cụm và các đau nửa đầu kịch phát khác có sự liên quan trong điều trị. Đau nửa đầu kịch phát và đau nửa đầu liên tục thì đáp ứng kém với indomethacin. Hội chứng SUNCT (Shint-lasting unilateral neuralgiform headache with conjunctival infection and tearing) thì ít hiệu quả với indomethacin hoặc những thuốc khác được dùng trong điều trị đau đầu cụm hoặc đau nguồn gốc thần kinh.

    ĐIỀU TRỊ

    Như điều trị những rối loạn nội khoa khác, điều trị đau đầu cụm cần giáo dục bệnh nhân và thuốc thích hợp được chia thành điều trị triệu chứng, điều trị giai đoạn chuyển tiếp, điều trị dự phòng.

    1. Giáo dục bệnh nhân

    Tất cả những bệnh nhân bị cường độ đau nhiều trong đau đầu cụm có thể khởi phát lo lắng quá mức và sự đau đớn cảm giác sự chết vào cơn kề tiếp. Một số bệnh nhân tiếp nhận được suy nghĩ là sự đau đớn sẽ tự giới hạn sau vài phút. Sau khi chẩn đoán được thiết lập, thật là quan trọng để làm yên lòng không chỉ bệnh nhân mà còn gia đình rằng hội chứng lâm sàng bệnh nhân mô tả là một hội chứng gia đình. Thậm chí những cơn có cường độ đau nhiều, cũng không đe dọa sự sống.

    Sự mong đợi hiện thực cần được thiết lập về những sự lựa chọn điều trị thích hợp hiện tại. Những bệnh nhân nên nhận thấy rằng những cơn đau đầu có thể ngăn cản với điều trị dự phòng và đau đầu dữ dội có thể được điều trị hiệu quả với điều trị cấp (điều trị triệu chứng). Tuy nhiên, khoảng thời gian xảy ra các cơn không thể ngăn chặn được.

    Bệnh nhân phải được dạy để tránh yếu tố khởi phát, đặc biệt trong khoảng thời gian xảy ra cơn. Rượu gây ra cơn đau đầu cấp trong thời gian cơn nhưng không ảnh hưởng trong thời gian giảm bệnh. Vì thế, tất cả bệnh nhân phải được dạy để tránh những thức uống có rượu trong thời gian cơn. Tránh giấc ngủ ngắn ban ngày, hoạt động quá mức, sự̣ tức giận và tiếp xúc lâu với những chất dễ bay hơi có thể giúp ích cho bệnh nhân. Độ cao, đi máy bay và thay đổi chu kỳ thức – ngủ có thể khởi phát cơn. Sổ tay ghi cơn đau đầu giúp theo dõi đáp ứng với điều trị.

    1. Điều trị cấp (điều trị triệu chứng)

    Bởi vì sự khởi phát đột ngột và thời gian ngắn để đạt cường độ đỉnh, những cơn đau đầu cụm cần được sử dụng điều trị triệu chứng tác dụng nhanh, thở oxy, sumatriptan, dihydroergotamine, zolmitriptan và gây tê tại chỗ đã tạo ra sự giảm đau (bảng 5).

         Oxygen

    Thở oxy là một trong những điều trị triệu chứng có hiệu quả nhất nhưng ít tiện lợi nhất. Vai trò của thở oxy trong điều trị đau đầu cụm đã được đưa ra đầu tiên bởi Horton (class 3). Năm 1952, ông ta đã viết “thở oxy 100% sẽ làm giảm cơn đau đáng kể, đặc biệt khi đau nhẹ và nếu bệnh nhân thường xuyên sử dụng oxy. Kudrow đã ghi nhận rằng 39 trong số 52 bệnh nhân dùng oxy 100% qua mask với 7l/phút đã giảm gần hoàn toàn hoặc hoàn toàn triệu chứng trong vòng 15 phút (class 3). Forgan, tuy nghiên cứu mù đôi đã cho thấy rằng thở oxy có hiệu quả trong điều trị triệu chứng của cơn (class 1). Tuy nhiên trong một số bệnh nhân, thở oxy có thể làm hoãn lại hơn là loại bỏ cơn đau. Trong nghiên cứu với oxy cao áp (2atm trong 30 phút) đã có hiệu quả trong 5 – 13 phút ở 6 trong số 7 bệnh nhân (class 2). Sử dụng oxy cao áp trong điều trị đau đầu cụm có sự hạn chế về thực hành.

          Sumatriptan

    Sumatriptan, 1 đồng vận thụ thể serotonin 1B/1D, là thuốc uống hiệu quả nhất trong giảm triệu chứng của đau đầu cụm trong nghiên cứu mù đôi, 6mg sumatriptan được dùng theo đường dưới da thì hiệu quả hơn placebo (class 1). Trong vài nghiên cứu, Sumatriptan vẫn hiệu quả sau khi dùng tiếp tục trong vài tháng (class 3). Sumatriptan không cho thấy có hiệu quả khi sử dụng thuốc trước cơn và khi dùng như thuốc ngừa căn (class 1).

    Mặc dù những bệnh nhân bị đau đầu cụm mãn tinh đáp ứng tốt với sumatriptan, nhưng đáp ứng chậm hơn những bệnh nhân bị cơn đau đầu cụm (class 1). Nhìn chung, sumatriptan dung nạp tốt, nhưng bị chống chỉ định ở những bệnh nhân bị thiếu máu cơ tim hoặc tăng huyết áp không kiểm soát. Vì thế cần khuyến cáo tập thể dục bởi vì đau đầu cụm ưu thế ở nam tuổi trung niên, những người này thường có những yếu tố nguy cơ cùng tồn tại cho bệnh lý tim mạch, một phần bởi sự lạm dụng thuốc lá. Có nghiên cứu so sánh tính hiệu quả và sự đáp ứng của sumatriptan 6mg dùng dưới da và sumatriptan 20mg trong mũi, 49 trong số 52 bệnh nhân đã cho thấy có giảm đau hoàn toàn trong vòng 15 phút, với thời gian trung bình để giảm đau là 9, 6 phút sau tiêm dưới da (class 3). Trong 7 của 52 bệnh nhân với xịt mũi (xịt cùng bên bị đau đầu) đã giảm đau hoàn toàn trong vòng 15 phút. Hiệu quả của sumatriptan xịt mũi đã được làm vững hơn bởi nghiên cứu cho thấy có hiệu quả trong cơn đau đầu kéo dài hơn 45 phút. Hiệu quả của sự đáp ứng được ghi nhận trong vòng 30 phút trong 97% số cơn đã điều trị với sumatriptan xịt mũi, so với đáp ứng với placebo 26% (class 1). Silberstein khuyên rằng sumatriptan không được đề nghị dùng cho những bệnh nhân bị hơn 2 cơn trong vòng 24h.

           Dihydroergotamine

    Dihydroergoatmine được dùng ở Mỹ dưới hình thức tiêm và xịt mũi khi dùng đường tĩnh mạch sẽ giảm đau trong vòng < 10 phút. Dạng xịt mũi được dùng rộng rãi hơn. Nghiên cứu mù đôi đã so sánh dihydroergotamine (1mg) dạng xịt mũi với placebo và không thấy sự thay đổi về tần số hoặc thời gian của các cơn, nhưng cường độ đau thì giảm đáng kể. Khi dùng thuốc này (class 1), kinh nghiệm riêng cho thấy rằng xịt mũi 2mg thì có hiệu quả điều trị triệu chứng nhưng chưa có nghiên cứu về vấn đề này, chống chỉ định bao gồm : bệnh động mạch vành, tăng huyết áp không kiểm soát, bệnh mạch máu ngoại vi và suy gan, suy thận.

           Zolmitriptan

    Zolmitriptan là thuốc uống có hiệu quả trong điều trị triệu chứng (class 1). Trong nghiên cứu gần đây đã đánh giá hiệu quả và sự dung nạp của Zolmitriptan uống 5mg và 10mg và so sánh với placebo, zolmitriptan là thuốc uống có hiệu quả trong điều trị triệu chứng (class 1) sự khác biệt có ý nghĩa khi dùng 10mg zolmitriptan so với placebo. 30 phút sau thì còn đau nhẹ hoặc hết đau đã được ghi nhận 60%, 57% và 42%. Số bệnh nhân dùng zolmitriptan 10mg, zolmitriptan 5mg, plaebo. Mặc dù hiệu quả của zolmitriptan không nhanh như điều trị với oxy hoặc sumatriptan tiêm dưới da, zolmitriptan là ‘triptan” uống đầu tiên có hiệu quả trên bệnh nhân bị cơn đau đầu cụm (class 1). Zolmitriptan không có hiệu quả với đau đầu cụm mạn tính.

    Zolmitriptan xịt mũi có thể chứng minh có hiệu quả hơn dạng viêm ở những bệnh nhân bị đau đầu cụm. Dược động học của zolmitriptan xịt mũi thì hoạt động khởi phát nhanh, sau khi xịt mũi, zolmitriptan được tìm thấy trong huyết tương sau 2 phút và trong não sau 5 phút. Xấp xỉ 70% lượng zolmitriptan được hấp thu tại mũi trong giờ đầu tiên. Gần đây, thử nghiệm mù đơn ở 5 bệnh nhân, những người đã điều trị 36 cơn đau đầu với 5mg zolmitriptan xịt mũi, đáp ứng không đau đầu đã được thấy ở 27 trong số 36 cơn đau sau 15 phút. Bằng chứng về hiệu quả và tính an toàn của zolmitriptan xịt mũi còn chờ đợi vào nghiên cứu sau này. 

    Ergotamine

    Qua nghiên cứu, Kudrow đã ghi nhận rằng viên Ergotamine tartrate ngậm dưới lưỡi  có thể có hiệu quả(Class3).Bởi vì hiệu quả sinh học của Ergotamine uống thì không cố định, thấp và chậm nên không được sử dụng trong điều trị triệu chứng cấp tính.(class 3)

        Gây tê tại chỗ

    Thuốc  gây tê tại chỗ ở mũi như cocaine(class3)  hoặc lidocaine(class3) đã được ghi nhận là có hiệu quả. Tuy nhiên, dùng Lidocaine dưới dạng chai xịt hoặc dạng nhỏ giọt 4% vào mũi cùng bên với bên đau đầu đã làm cho bệnh nhân không hết đau và chỉ giảm đau trong khỏang 1/3 bệnh nhân (class 3).

        Octreotide

    Somatostatin ức chế sự phóng thích của CGRP và VIP dựa trên kết quả của hai thử nghiệm mù đôi đã cho thấy hiệu quả của Somatostatin IV trong đau đầu cụm. Trong nghiên cứu mù đôi có giả dược đã đánh giá việc sử dụng Octreotide, một thuốc giống Somatostatin cho điều trị cơn đau đầu cụm(class 1). Những bệnh nhân được giới thiệu để điều trị  hai cơn với mức độ đau trung bình,gián đọan ít nhất 24 giờ , sử dụng Octreotide 100 microgram tiêm dưới da hoặc Placebo. Sự đáp ứng với điều trị được định nghĩa là đau đầu từ nặng đến trung bình trở nên nhẹ hoặc hết sau 30 phút. Trong số 57 bệnh nhân được nghiên cứu, có 46 người có hiệu quả trong điều trị với Octreotide và 45 người với Placebo. Mức đáp ứng với Octreotide tiêm dưới da là 52% so với mức đáp ứng giả dược là 36%.(P<0.01). Octreotide được dung nạp tốt, không ghi nhận tác dụng phụ trầm trọng. Tác dụng phụ chính được ghi nhận là rối lọan dạ dày ruột xảy ra ở 8 bệnh nhân điều trị với Octreotide so với 4 bệnh nhân dùng Placebo. Tất cả tác dụng phụ thường tự giới hạn.

     

    1. Điều trị dự phòng

    Hầu hết những bệnh nhân bị đau đầu cụm cần điều  trị  dự phòng vì 4 lý do chính:

    1. Những cơn thường khởi phát nhanh, trầm trọng và thời gian quá ngắn để thuốc kịp có tác dụng.
    2. Điều trị sớm có thể chỉ trì hõan cơn.
    3. Việc điều trị các cơn cấp có thể dẫn đến sự lạm dụng thuốc giảm đau nhanh.
    4. Nhược điểm khi ngưng khỏang thời gian xảy ra cơn sớm có thể kéo dài rối lọan hằng tháng.

    Mục tiêu điều trị phòng ngừa đầu tiên là làm giảm số cơn và duy trì thời gian giảm bệnh. Những nguyên tắc của thuốc điều trị dự phòng là:

    1. Bắt đầu điều trị sớm trong khỏang thời gian của cơn.
    2. Tiếp tục điều trị cho đến khi bệnh nhân hết đau đầu ít nhất 2 tuần.
    3. Giảm liều thuốc dần thì tốt hơn ngưng nhanh.
    4. Điều trị lại với thuốc ban đầu cho cơn kết tiếp.

    Lựa chọn thuốc điều trị dự phòng dựa vào một vài yếu tố(bảng 6).Sự kết hợp hai hoặc nhiều thuốc có thể cần thiết ở một số bệnh nhân. Những thuốc dùng trong điều trị dự phòng và liều chuẩn, chống chỉ định,tác dụng phụ được liệt kê trong bảng 7.

          Transitional Prophylaxis

    Dùng thuốc trong khỏang thời gian ngắn cả Corticoid, ergotamine hoặc ức chế thần kinh chẩm.

               Prednisone

    Corticosteroids(Prednisone và Dexamethasone) là thuốc dự phòng tác dụng nhanh nhất. Sự đáp ứng xảy ra trong vòng 1-2 ngày sau điều trị ban đầu. Những thuốc này có tác dụng phòng ngừa ban đầu hiệu quả nhất để cắt chu kỳ đau đầu nhanh trong khi chờ đợi hiệu quả của thốc phòng ngừa duy trì. Có bài giảng nâng đỡ  sự sử dụng Corticosteroids không liên tục

    Ban đầu, Horton đã ghi nhận có hiệu quả khi dùng 100mg Prednisone cho 4 trong số 21 bệnh nhân(class 3).Jammes đã ghi nhận hiệu quả trên 11 trong 19 bệnh nhân được dùng prednisone (class 3). Kudrow ghi nhận giảm đau đầu trong 77% trong số 77 bệnh nhân bị cơn đau đầu cấp và giảm một phần trong số 12%bệnh nhân được dùng Prednisone(class 3). Couch và Ziegler cũng ghi nhận rằng Prednisone có hiệu quả(class 3). Tại Mayo Clinic, thường điều trị theo phác đồ Campbell (60mg mỗi ngày trong vòng 3 ngày,sau đó giảm 10mg mỗi 3 ngày). Hầu hết những nhà lâm sàng giới hạn sử dụng Prednisone không quá 2 hoặc 3 lần mỗi năm.

             Dexamethasone

    Dexamethasone được cho là có hiệu quả nhưng tài liệu còn ít. Anthony và Daher ghi nhận rằng Dexamethasone  với  liều 4 mg dùng 2 lần mỗi ngày trong vòng 2 tuần, sau đó 4 mg mỗi ngày trong vòng 1 tuần là có hiệu quả.(class 3). Giống như dùng Prednisone, khi liều Dexamethasone giảm dần thì cơn đau đầu cụm có thể tái phát. Vì thế, Corticosteroids có hiệu quả trong việc tạo ra sự giảm nhanh triệu chứng ở bệnh nhân với cơn đau đầu cụm. Bởi vì những tác dụng liên quan với Corticosteroids nên cần tránh điều trị kéo dài.

             Dẫn xuất Ergotamine

    Ergotamine tartrate (2mg) là thuốc có hiệu quả cho việc giảm nhanh số cơn trong khỏang thời gian ngắn. Ergotamine tartrate nên uống  vào buổi tối có thể ngăn cản các cơn xảy ra vào ban đêm. Trong khỏang thời gian ngắn hơn 2 tháng,Ergotamine có thể uống 1 hoặc 2 lần mỗi ngày với liều tối đa 3 – 4 mg. Ergotamine tartrate bị chống chỉ định trong vòng 24 giời sau khi uống Sumatriptan, và không được dùng cùng lúc với Methysergide bởi vì nguy cơ co mạch củ cả hai thuốc.

            Ức chế thần kinh chẩm lớn(GON)

    GON được ghi nhận đầu tiên bởi Anthony  là có hiệu quả giảm đau tạm thời. Gần đây, Perez đã cho rằng ức chế GON trong đau đầu cụm tạo ra giảm đau thời gian ngắn trong 64%bệnh nhân. Trong nghiên cứu mù đôi có giả dược liên quan 23 bệnh nhân bị cơn đau đầu cụm và 7 bệnh nhân bị đau đầu cụm mãn tính, 92% bệnh nhân được tiêm betamethasone 9.06 mg/ dL và 0.3 mL 2% xylocaine trong vùng thần kinh chẩm lớn cùng bên với bên đau đầu cho thấy có sự giảm ít nhất 50% số cơn trong tuần đầu trong tuần đầu sau tiêm thuốc so với tuần trước dùng thuốc,trong khi chỉ có 1 bệnh nhân trong nhóm giả dược có cải thiện tương tự.(P=0.0004). 4 tuần sau khi tiêm thuốc, 9 bệnh nhân đã dùng corticosteroids bao gồm 3 bệnh nhân bị cơn đau đầu cụm thì hết cơn,không có bất kỳ điều trị ngăn ngừa khác. Nhiều tác giả đã kết luận rằng  tiêm Corticosteroids dưới vùng chẩm có thể ức chế cơn đau đầu cụm và đau đầu cụm mạn tính., tạo ra sự giảm tạo thời trong 70% bệnh nhân.

     

         Điều trị dự phòng duy trì

    Điều trị dự phòng duy trì  thường bắt đầu vào thời điểm khởi phát của khỏang thời gian đau đầu cụm và được dùng kết hợp với Corticosteroids hoặc dẫn xuất ergotamine, điều trị dự phòng duy trì vẫn tiếp tục sau khi điều trị với thuốc cắt cơn ban đầu không dược tiếp tục.

                             Ức chế kênh canxi

    Ức chế kênh canxi là nhóm thuốc về tim mạch, tương tác với kênh canxi lọai L. Cơ chế của thuốc này trong điều trị đau đầu cụm thì không được giải thích.

               Verapamil

    Hầu hết các nhà lâm sàng xem Verapamil là sự lựa chọn trong điều trị phòng ngừa cả đau đầu cụm dạng cơn và dạng mãn tính. Verapamil có tác dụng phụ tương đối lành tính và có thể kết hợp với dẫn xuất Ergotamine,Sumatriptan, Zolmitriptan, và những thuốc phòng ngừa khác. Trong một thử nghiệm liên quan 48 bệnh nhân(33 người bị cơn đau đầu cụm và 15 người bị đau đầu cụm mãn tính), ghi nhận sự cải thiện hơn 75% trong khi điều trị với Verapamil(liều trung bình mỗi ngày 360 mg)(class 3). Thử nghiệm mù đôi có giả dược đã đánh giá hiệu quả của Verapamil trong 14 ngày.Thuốc làm giảm đáng kể tần số cơn và dung nạp tốt(class 1).

    Liều khởi đầu của verapamil là 80 mg 2 lần mỗi ngày hoặc 240 mg phóng thích chậm mỗi ngày. Mặc dù hầu hết các nhà lâm sàng cho rằng cả hai lọai thuốc: lọai thường và lọai phóng thích chậm có hiệu quả bằng nhau. Khi Verapamine dùng chung với Lithium thì làm tăng tính nhạy cảm của Lithium.

               Nimodipin

    Nimodipin (30 mg) được cho có hiệu quả trong hai thử nghiệm.(class 3), tuy nhiên chưa được sử dụng rộng rãi trong điều trị đau đầu cụm.

              Methysergide

    Mặc dù Methysergide không còn sử dụng ở Mỹ, nhưng vẫn còn sử dụng trên thế giới. Methysergide  là tiền chất của Methylergonovine. Nó được phân phối rộng rãi trong cơ thể,qua hàng rào máu – não, và gắn với thụ thể Serotonon trong não.Methysergide  là thuốc dự phòng cho cơn đau đầu cụm, và kết quả tốt trong 70% bệnh nhân (class 3). gần đây, mức đáp ứng không mạnh chỉ 25 – 30% trường hợp được ghi nhận(class 3). Liều hàng ngày là 2 mg 2 lần mỗi ngày., có thể dùng  tới 12 mg nếu dung nạp được. Tác dụng trong thời gian ngắn bao gồm nôn, đau bụng, tiêu chảy,cứng cơ, phù bàn chân..Tác dụng phụ lâu dài bao gồm phản ứng sợi.

    Trong đau đầu cụm mạn tính, Methysergide phải kê đơn cẩn thận. Mặc dù không có sự đồng thuận, hầu hết các nhà lâm sàng tuân theo sự đề nghị The Physician’ Desk Reference là nghỉ 1 tháng thuốc giữa khỏang thời gian điều trị 6 tháng. Hầu hết các nhà lâm sàng dựa vào hình ảnh học và cận lâm sàng ( X-Quang ngực, siêu âm tim, Ct hoặc MRI bụng, xét nghiệm tầm sóat chung) khi Methysergide được dùng kéo dài.

                Lithium carbonate

     Hiệu quả của Lithium carbonate trong điều trị phòng ngừa đau đầu cụm đã được ủng hộ bởi một vài thử nghiệm lâm sàng. Kudrow đã ghi nhận ban đầu  về hiệu quả của Lithium ở 32 bệnh nhân bị đau đầu cụm mãn tính không đáp ứng với điều trị thông thường lệ.(class 3). Kudrow đã ghi nhận “sự cải thiện kéo dài và đáng kể” với điều trị Lithium ở 27 bệnh nhân, với điều trị không liên tục ở 4 bệnh nhân bởi vì tác dụng phụ. Ekbom đã điều trị 19 bệnh nhân, 8 bệnh nhân bị đau đầu cụm mạn tính mặc dù sự chuẩn độ Lithium với nồng độ huyết thanh là 0.7-1.2 mmol/L(class 3).

    Tất cả bệnh nhân bị đau đầu cụm mạn tính và chỉ có 4 trong 11 bệnh nhân bị  cơn đau đầu cụm có sự giảm một phần, 7 bệnh nhân khác bị cơn đau đầu cụm ghi nhận chỉ có hiệu quả ít hoặc không hiệu quả. Manzoni đã ghi nhận hiệu quả của Lithium (900 mg mỗi ngày) ở 22 bệnh nhân bị đau đầu cụm mạn tính.(class 2).

    Khởi đầu, 82% bệnh nhân có ứng tốt với Lithium, 50% có hiệu quả lâu dài. Trong nghiên cứu tương tự, 68 bệnh nhân bị cơn đau đầu cụm có đáp ứng không mạnh. Đặc biệt, đau đầu đã đáp ứng tốt với Lithium trong 38% bệnh nhân , 38% bệnh nhân đáp ứng một phần, 24% còn dai dẳng. Trong thử nghiệm mù đôi có giả dược đã cho thấy sự tốt hơn của Lithium ( Lithium 800 mg dạng phóng thích chậm) so với giả dược (class 2). Tuy nhiên đã kết thúc sau 1 tuần điều trị và ít hiệu quả có thể liên quan với mức đáp ứmg với giả dược không mong đợi là 31%. Rõ ràng, khoảng thời gian điều trị quá ngắn để cho kết quả cuối cùng. Do vậy, sự kết luận rằng Lithium có hiệu quả trong điều trị đau đầu cụm mạn tính nhưng có lẽ không hiệu quả trong dạng cơn.

     Liều khởi đầu của Lithium là 300mg/ ngày(?) hoặc 450 mg lọai phóng thích chậm, nhưng có thể cần liều cao. Thuốc được hấp thu nhanh và gần như hòan tòan.Lithium có thời gian bán hủy gần 24 giờ và uống 1 tuần thì đạt nồng độ ổn định, sau đó nồng độ trong huyết thanh nên được đo. Đáp ứng với điều trị thường xảy ra trong vòng 1 tháng. Lithium thường có hiệu quả với nồng độ trong huyết thanh 0.4- 0.8 mEq/L, ít hơn liều cần điều trị rối lọan lưỡng cực.

      Lithium có một số tác dụng phụ. Lithium có cửa sổ điều trị hẹp. Nồng độ trong huyết thanh nên được đo sau 12 giờ dùng liều cuối và không nên quá 1.0 mEq/L. Cần kiểm tra chức năng thận và tuyến giáp trước khi điều trị và trong thời gian điều trị. Tác dụng phụ của Lithium bao gồm yếu,nôn ói, tiêu chảy, đa niệu. Ngộ độc được đặc trưng bởi các dấu hiệu thần kinh như run, Nystagmus, lú lẫn, Thất điều, dấu hiệu ngọai tháp, co giật.Cần thận trọng khi dùng chung với các thuốc khác như lợi tiểu hoặc thuốc kháng viêm nonsteroid. Tăng bạch cầu đa nhân có thể tăng khi uống Lithium.

                Valproic acid

    Trong một nghiên cứu,Valproic acid (600-2000 mg/ngày được chia thành 2- 3 lần) đã có hiệu quả trong 73% bệnh nhân(Level 3 ). Wheeler đã cho rằng đau đầu cụm liên quan với đặc điểm của migraine như nôn ói, buồn nôn, sợ ánh sáng, và sợ tiếng động có thể đáp ứng với Valproic acid (class 3). Nghiên cứu mù đôi có giả dược với 1000-2000mg Sodium valproate trong điều trị dự phòng 96 bệnh nhân bị đau đầu cụm ( 77% đau đầu cụm từng cơn) đã được ghi nhận. Tiêu chuẩn hiệu quả ban đầu là tỉ lệ bệnh nhân cải thiện tốt ( giảm 50% số cơn mỗi tuần trong giữa khỏang thời gia điều trị và tuần cuối của điều trị). Không có sự khác biệt giữa hai nhóm: 50% người trong nhóm dùng Valproate và 62% trong nhóm placebo đã được cải thiện tốt(P=0.23). Mức thành công này đã được thấy trong nhóm giả dược, có liên quan với sự giảm cơn đau một cách tự nhiên, đã không cho bất kỳ một kết luận đúng đắn nào về đánh giá hiệu quả thật sự của Sodium Valproate trong điều trị dư phòng đau đầu cụm.

       Valproate acid được chia thành 250 mg mỗi ngày,250 mg mỗi lần tăng liều đã được đề nghị,  chuẩn độ với liều thấp nhất. Viêm tụy, rốimlọan chức năng tiểu cầu, tạo huyết khối, rối lọan chức năng gan đã liên quan với thuốc này nhưng hiếm gặp.

                Topiramate

      Vài nghiên cứu đã cung cấp mâu thuẫn trong việc đánh giá hiệu quả của Topiramate. Trong nghiên cứu của Wheeler và Carrazana, (class 3) giảm số cơn xảy ra trong vòng 1- 3 tuần trong số 9 / 10 bệnh nhân ( 8 người đau đầu cụm dạng từng cơn và 2 người dạng kéo dài.  với liều 50-150 mg/ngày.Trong nghiên cứu khác, Topiramate với liều 25-75 mg/ ngày đã tạo ra sự giảm cơn trong 11 bệnh nhân(10 dạng từng cơn và 11 dạng kéo dài) (class 3). Trong nghiên cứu khác,36 bệnh nhân(26 dạng từng cơn và 10 dạng kéo dài) đã điều trị với Topiramate đã không ghi nhận những thay đổi về lâm sàng trong tần số cơn.Liều từ 100-200 mg/ngày, đã cung cấp khoảng thời gian 20 ngày. Cần có những thử nghiệm một cách rõ ràng để thiết lập vai trò của topiramate trong d0iều trị dự phòng đau đầu cụm.

                Capsaicin

    Capsaicin, là thành phần của quả ớt, đã làm hư nơron cảm giác của chất P. Trong nghiên cứu mù đôi có giả dược, Capsaicin đã dùng 2 lần mỗi ngày trong 7 ngày vào trong mũi cùng bên với bên đau và cho thấy hơn giả dược về việc giảm tần số và mức độ trầm trọng của cơn(class 2). Fusco đã cho thấy rằng Capsaicin dùng ở bên mũi cùng bên với bên đau đã tạo ra sự cải thiện đáng kể trong 70% bệnh nhân trong 70 người ( 51 người bị đau đầu dạng từng cơn, 19 người dạng kéo dài) Không có sự cải thiện trên bệnh nhân dùng Capsaicin vào bên mũi đối bên.(class 2).Capsaicin không được sử dụng rộng rãi để điều trị đau đầu cụm bởi vì ó những thuốc khác hiệu quả hơn.

                Melatonin

       Melatonin là chất tiêu biểu nhất cho nhịp độ 1 lần mỗi ngày ở người và chịu sự kiểm sóat của nhân trên giao thị. Hiệu quả khi uống 10 mg Melatonin đã được đánh giá qua thử nghiệm mù đôi(class 1). Giảm đau đầu cụm đã được ghi nhận trong vòng 3-5 ngày trong 5 người trong số 10 bệnh nhân đã nhận Melatonin so với 10 người dùng Placebo.

               Indomethacin

      Indomethacin là một thuốc kháng viêm nonsteroid nhiều lọai TACs như là đau kịch phát nửa đầu từng cơn mãn tính đáp ứng tuyệt đối với Indomethacin.tuy nhiên Indomehacin chưa được đánh giá một cách hệ thống trong dự phòng đau đầu cụm. Các bằng chứng lẻ tẻ gợi ý nó chỉ có hiệu quả một phần (class 3).

       Các thuốc khác

    Nhiều lọai thuốc khác đã được khảo sát trong điều trị đau đầu cụm. Các nghiên cứu nhỏ dạng mở và các báo cáo từng ca đã chỉ ra rằng nhiều thuốc có hiệu quả trong đau đầu cụm: Methyphenidate (class 3) , baclofen (class 3) , Tizanidine (class 3), Clonidine (class 3), pizotifen (class 3), Clopromazine (class 3), histamin (class 3), leuprolide (class 3), Eletriptan (class 3), và gabapentin (class 3). Kinh nghiệm về những lọai thuốc này và nhiều lọai thuốc khác như Botulinum toxin (class 3), Cyproheptadin, diltiazem và tamoxiphene thì quá hạn chế để hổ trợ cho việc sử dụng chúng thường qui trong điều trị đau đầu cụm.

     Đau đầu cụm kháng trị

          Điều trị nội khoa

    Chỉ 10% bệnh nhân bị đau đầu cụm trở thành dạng mạn tính mà bị thất bại với đơn trị liệu. tuy nhiên, Những bệnh nhân bị đau đầu cụm dạng từng cơn có thể kháng thuốc tượng đối, không dung nạp, chống chỉ định với sanh non, hoặc thuốc dự phòng(hoặc cả hai). Vì thế, những bệnh này cần phối hợp trị liệu và có thể dùng phẫu thuật ngọai thần kinh.

      Trước khi xem xét điều trị ngọai khoa, đó là trách nhiệm của các nhà lâm sàng đã dốc hết các thuốc các thuốc. Nhiều bệnh nhân đáp ứng với điều trị phối hợp hơn là dùng một  thuốc đơn độc với liều tối đa. Ví dụ như Methysergide hoặc Lithium có thể phối hợp với Verapamil. Ví dụ 3 thuốc có thể sử dụng phối hợp như Verapamil, Lithium, Ergotamine. Valproic acid hoặc Topiramate có thể kết hợp với Verapamil. Melatonin có thể được xem xét để thêm vào điều trị bởi vì tác dụng phụ tương đối lành tính.Ergotamine không nên sử dụng lâu dài. Điều trị với Methysergide, Lithium, hoặc Ergotamine có thể giới hạn việc sử dụng Sumatriptan là một thuốc sớm bị hất bại.

     Trong nghiên cứu những bệnh nhân nội trú, Dihydroergotamine được dùng tiêm tĩnh mạch mỗi 8 giờ trong 3 ngày có hiệu quả trong điều trị đau đầu cụm (class 3). Trong nghiên cứu của Mather, 54 bệnh nhân bị đau đầu khó chũa (31 người có đau đầu cụm mạn tính) hết đau đầu sau khi tiêm tĩnh mạch Dihydroergotamine. 12 tháng sau, 83% bệnh nhân bị đau đầu cụm từng cơn và 39% bệnh nhân bị đau đầu cụm mạn tính thì hết đau đầu. Những nghiên cứu gần đây cũng cho thấy tiêm tĩnh mạch Dihydroergotamine cho bệnh nhân ngọai trú thì cũng an tòan và hiệu quả cho đau đầu cụm (class 3).

      Tiêm tại chỗ Methyprednisolone với Lidocaine vào thần kinh chẩm lớn cùng bên với bên đau đã làm giảm đau đầu kéo dài từ 5-73 ngày (class 3). Một số nhà lâm sàng nghĩ rắng đây là phương pháp có hiệu quả tạm thời. Sự gây tê với Histamine có thể được sử dụng để điều trị đau đầu cụm kháng trị nhưng kết quả còn lẫn lộn. Điều trị này cần được điều trị trong bệnh viện khoảng 1 tuần trong khi tiêm Histamine (class 3).

             Điều trị ngọai khoa

    Điều trị ngọai khoa chỉ áp dụng cho những bệnh nhân bị đau đầu cụm khó chữa nhất. như điều trị thất bại, chống chỉ định hoặc không dung nạp thuốc. Chỉ định điểu trị ngọai khoa cho bệnh nhân bị đau đầu cụm mạn tính bao gồm thất bại với điều trị nội khoa, đau đầu một bên, tâm lý và nhân cách ổn định và không có khả năng nghiện.

    Qua vài thập niên, những phương pháp phẫu thuật khác nhau đã được sử dụng để điều trị đau đầu cụm mạn tính đã kháng trị với điều trị nội khoa (bảnng 8). Phương pháp được nhiều nhà lâm sàng ưa thích là Radiofrequency thermocoagulation đối với hạch sinh ba. Nhìn chung phường pháp này được ưa chuộng với Glycerol gangliorhizolysis bởi vì phạm vi và độ chính xác có thể được kiểm sóat tốt hơn với radiofrequency thermocoagulation. Nguy cơ viêm màng não hóa học hoặc xuất huyết dưới nhện thì cao hơn so với Glycerol gangliorhizolysis.

      Kết quả của Radiofrequency rhizotomy đã được khích lệ, gần 75% bệnh nhân có kết quả tốt (class 3). Kết quả tốt nhất đã ghi nhận ớ bệnh nhân với mất cảm giác đau hòan toàn. Một số bệnh nhân duy trì tình trạng không đau tới 20 năm. Mức độ tái phát khoảng 20% (class 3).Những biến chứng thoáng qua bap gồm song thị, lệch hàm, tăng thính lực. Những biến chứng kéo dài hơn bao gồm mất cảm giác gíác mạc. Cần theo dõi về mắt lâu dài ở tất cả bệnh nhân điều trị với Radiofrequency rhizotomy. Trong nghiên cứu gần đây, những sang thương radiofrequency của hạch khẩu cái hầu theo cách tiếp cận dưới hàm được thực hiện trên 66 bệnh nhân (class 3). Kết uqả thì không có lợi, 40% bệnh nhân giảm đau và 30% bệnh nhân bị đau đầu cụm mãn tính hết đau đầu. Biến chứng bao gồm chảy máu cam(12%), hematoma vùng má (17%), tổn thương thần kinh hàm trên một phần (6%). Hầu hết các nhà lâm sàng lưỡng lự khi dùng phương pháp này.

      Gamma- knife radiosurgery đã cho thấy có hiệu quả trên 6 bệnh nhân bị đau đầu cụm kháng trị (class 3). Thời gian để có hiệu quả có thể có ngay lập tức hoặc trong vòng một tuần. 4 bệnh nhân hết đau kéo dài hơn 8 tháng. Hiệu quả, an toàn, thời gian của phương pháp này vẫn chưc rõ ràng.

     Giải ép vi mạch của dây V, có hoặc không có cắt thần kinh giữa, cho những bệnh nhân bị đau đầu cụm mãn tính d0ã được đề nghị bởi Lovely, xem như là điều trị ngọai khoa ưu tiên. Trong 28 bệnh nhân,  đã trải qua 39 cuộc phẫu thuật đối với dây V, có hoặc không có sự kết hợp với giải ép vi mạch hoặc cắt thần kinh tức thì. Hiệu quả sau điều trị phẫu thuật ban đầu (giảm >90%) đã ghi nhận trong 50% bệnh nhân và giảm hơn 50% được ghi nhận ở 73% bệnh nhân.Theo dõi lâu dài có 46% giảm rất tốt. Phẫu thậut lần 2 không hiệu quả. Những phương pháp đòi hỏi đội ngũ phẫu thuật có kinh nghiệm.

      Một vài tác giả đã ghi nhận những kết quả đầy hứa hẹn ở những bệnh nhân bị đau đầu cụm mạn tính sau phẫu thuật thần kinh V cảm giác (class 3). Kirkpatrick đã ghi nhận có giảm đau hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn ở 12 trong số 14 bệnh nhân đã trải qua rhizotomy thần kinh sinh ba cảm giác qua đường hố sau (class 3).Khoảng thời gian theo dõi trung bình là 5.6 năm. Trong nghiên cứu gần đây, 15 trong số 17 bệnh nhân đã trải qua cắt rễ cảm giác dây V tại mức thân não đã làm giảm đau hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn trong khoảng thời gian ngay sau khi phẫu thuật, và 76% tiếp tục có hiệu quả lâu dài (khoảng thời gian theo dõi trung bình là 6.7 năm). điều hài lòng là 10 trong 17 bệnh nhân đó không cần điều trị phòng ngừa sau phẫu thuật.

      Kết quả của nghiên cứu hình ảnh học chức năng đã cho rằng yếu tố tạo ra đau đầu cụm được định vị ở chất xám vùng sau dưới của hạ đồi. Leone đã thúc đẩy làm kích thích não sâu trong vùng này. Tổng số 19 bệnh nhân nhận sự kích thích não sâu  với kết quả khả quan trong 18 trường hợp (class 3).Cơ chế thì chưa được biết rõ. Cần có nghiên cứu để xác định sự dung nạp và hiệu quả lâu dài của phương pháp này.

      Sự kích thích thần kinh chẩm đã cho thấy có hiệu quả ở bệnh nhân nam 45 tuổi bị đau đầu cụm mạn tính.

     

    Đặt lịch khám

    Copyright 2024® by SAIGON MEDIC. All rights reserved.

    Các thông tin trên website saigonmedic.com chỉ dành cho mục đích tham khảo, tra cứu. Khuyến nghị Quý khách hàng không tự ý áp dụng, nên liên hệ bác sĩ để được tư vấn.