CÁC LOẠI ĐAU ĐẦU NGẮN NGUYÊN PHÁT

Trung tâm Y khoa Sài Gòn Medic
Chuyên khoa: NỘI TỔNG QUÁT

29-01-2026

Lượt xem:  112

BS.CK1 TRẦN ĐÌNH VŨ

Tư vấn chuyên môn bài viết

BS.CK1 TRẦN ĐÌNH VŨ

Trung Tâm Y Khoa Sài Gòn - Saigon Medic

Mục lục

    CÁC LOẠI ĐAU ĐẦU NGẮN NGUYÊN PHÁT

    Trái ngược với đau đầu Magraine và đau đầu dạng căng thẳng, thường kéo dài vài giờ (> 4 giờ) đến vài ngày, nhóm rối loạn đau đầu kéo dài từ vài giây đến 1 giờ được xếp chung vào một nhóm “các loại đau đầu ngắn nguyên phát”. Những rối loạn đau đầu này có thể dễ dàng bị bỏ qua trong thực hành lâm sàng, chúng có thể thường gặp hơn chúng ta vẫn nghĩ. Các loại đau đầu này đặc trưng bởi đáp ứng với indomethacin ngay lập tức, thường hoàn toàn và kéo dài; thậm chí khi sử dụng các thuốc kháng viêm non- steroid khác và các thuốc giảm đau thông thường vẫn có hiệu quả trong điều trị. Rối loạn đau đầu ngắn nguyên phát có thể được phân chia thành nhóm có triệu chứng thần kinh tự chủ và nhóm không có triệu chứng thần kinh tự chủ.

    Đặc điểm các triệu chứng thần kinh tự chủ xuất hiện cùng bên với bên đau đầu, bao gồm: Hội chứng Horner một phần với không có giảm tiết mồ hôi ở mặt, Nghẹt mũi, Triệu chứng dữ dội liên quan với tắc nghẽn tạm thời ống lệ mũi, Tăng tiết mồ hôi, Đỏ bừng mặt, Chảy nước mắt, Phù mặt bao gồm nướu răng và khẩu cái, Nhịp chậm ( có thể gây syncope), Tăng huyết áp, Tăng tiết acid trong dạ dày.

    Phân loại các đau đầu ngắn nguyên phát, xin xem hình.

    Đau nửa đầu kịch phát (Paroxysmal hemicrania):

    Đau nửa đầu kịch phát được đặc trưng bởi đau đầu một bên, ngắn, thường xuyên. Tỉ lệ nữ:nam khoảng 2:1 và rối loạn này thường bắt đầu ở người trưởng thành, tuổi có ý nghĩa là 34. Tuy nhiên, độ tuổi dao động từ 6 đến 81.

    Tóm tắt lâm sàng của đau nửa đầu kịch phát mạn tính và đau nửa đầu kịch phát từng cơn tương tự nhau, chỉ khác nhau là đau nửa đầu kịch phát từng cơn giảm đau tự nhiên.

    Đau xảy ra nổi trội hơn ở vùng trước của đầu (hốc mắt hoặc thái dương) và thường kéo dài 2 phút đến 45 phút. Trong một báo cáo gần đây với 78 bệnh nhân, đau đầu kéo dài dưới 30 phút chiếm hơn 39 bệnh nhân. Trong một nghiên cứu cũ với 84 bệnh nhân, khoảng thời gian có ý nghĩa của cơn cấp là 21 phút và tần suất có ý nghĩa của cơn cấp là 11 ngày ( khoảng 6 đến 40 ngày). Trong một nghiên với 105 cơn cấp, khoảng thời gian có ý nghĩa của cơn cấp là 13 phút (khoảng 3 đến 46 phút) tần suất có ý nghĩa của cơn cấp là 14 ngày (khoảng 4 đến 38 ngày). Đây là sự khác biệt đối với đau đầu từng cụm, trong đó trên 6% đau đầu kéo dài dưới 3 phút và hơn 90% bệnh nhân có trên 3 cơn cấp mỗi ngày.

    Hầu hết bệnh nhân là đau đầu chỉ một bên, mặc dù trong vài trường hợp đau đầu luân phiên từng bên hoặc hiếm khi xảy ra hai bên. Đau đầu được mô tả như: đập mạnh (throbbing), đục (boring), mạch đập (pulsatile), hoặc đau như dao đâm (stabbing) với cường độ từ trung bình đến đau đớn dữ dội. Trong suốt cơn cấp, xảy ra những triệu chứng hoặc các dấu hiệu thần kinh tự chủ ở một hoặc hai bên.

    Chảy nước mắt và sung huyết mũi là những đặc điểm đi kèm thông thường nhất và thường củng cố thêm. Viêm kết mạc và chảy nước mũi cũng xảy ra lên đến 1/3 bệnh nhân.

    Tương tự với đau đầu từng cụm từng cơn, đau nửa đầu kịch phát từng cơn khác với đau nửa đầu kịch phát mạn tính do có phase cấp mà được gián đoạn bởi phase giảm kéo dài. Phase đau đầu có thể kéo dài từ 2 tuần đến 4,5 tháng, khoảng giảm từ 1 đến 36 tháng. Khoảng 1/3 cơn cấp xảy ra suốt đêm ngủ trong các rối loạn, và các cơn cấp được báo cáo xảy ra kết hợp với giấc ngủ REM.

    Hội chứng SUNCT

    Hội chứng SUNCT là một hội chứng tương đối không phổ biến, đặc trưng bởi cơn đau đầu rất ngắn (20-90 giây) nhưng thường xuyên ( trung bình 16 tới 100 cơn mỗi ngày), kịch phát dữ dội ở một bên hốc mắt và đau cạnh hốc mắt, thường kết hợp với chảy nước mắt nhiều và viêm kết mạc. Phổ biến ở giới nữ (2,3:1), tuổi khởi phát trung bình là 50 tuổi. Mặc dù hội chứng này giống như đau dây thần kinh sinh ba trong vùng chi phối của nó, có thể được phân biệt bởi đau kịch phát kéo dài và kết hợp với các triệu chứng thần kinh tự chủ cùng bên. Thuốc indomethacin và các thuốc đặc trưng hiệu quả với đau dây thần kinh sinh ba, migraine, và đau đầu từng cụm; nhìn chung không hiệu quả đối với SUNCT. Tuy nhiên, carbamazepine có thể hiệu quả trên vài bệnh nhân. Các trường hợp đáp ứng trong điều trị với lamotrigine và gabapentin đã được báo cáo.

    Về mặt thực hành lâm sàng, việc dùng thử indomethacin nên được cân nhắc đối với bệnh nhân đau đầu định kỳ trong khoảng thời gian ngắn (<1 giờ) với: chỉ một bên, có thể xảy ra vài lần mỗi ngày, có thể kết hợp với các triệu chứng thần kinh tự chủ; có thể được gây ra bởi nghiệm pháp Valsalva, gắng sức, hoặc hoạt động tình dục; hoặc có thể làm bệnh nhân thức giấc. Ngoại trừ đau nửa đầu tiếp diễn có thể nhận biết bởi chỉ đau một bên, kết hợp với các triệu chứng thần kinh tự chủ và đau như búa bổ, dù đó là đau đầu dai dẳng kéo dài. Ngay cả khi những đặc điểm lâm sàng đó có hoặc không có, một bệnh nhân đau đầu một bên liên tục kéo dài nên dùng thử indomethacin ngắn hạn với liều hợp lý (150mg).

    Đau nửa đầu tiếp diễn (Hemicrania continua ) :

    Như tên gọi, đau nửa đầu tiếp diễn được đặc trưng bởi đau đầu một bên và kéo dài. Trong một hồi cứu 34 bệnh nhân, tuổi bắt đầu trong khoảng 1-58 tuổi (trung bình 34 tuổi), tỉ lệ nữ:nam=1,8:1. Đau đầu chỉ một bên và được mô tả như: đau (aching), đập mạnh (throbbing), và mặc dù cường độ đau trung bình nhưng đau âm ỉ kéo dài bị gián đoạn bởi sự nặng lên trầm trọng có thể kéo dài nhiều giờ đến nhiều ngày.

    Các đặc điểm thần kinh tự chủ thường đi kèm đau đầu, đặc biệt trong suốt giai đoạn nặng lên, nhưng các đặc điểm này thường kém nổi bật so với đau nửa đầu kịch phát. Thêm vào đó, các triệu chứng thần kinh tự chủ, những triệu chứng liên quan migrain thường xảy ra trong đau nửa đầu tiếp diễn, đặc biệt trong suốt giai đoạn đau nặng lên. Trong một nghiên cứu gần đây với 26 bệnh nhân, theo sau và xảy ra trong suốt giai đoạn đau trung bình đến trầm trọng: 46% bệnh nhân buồn nôn, 15% nôn, 46% sợ tiếng động, 54% sợ ánh sáng, 27% sợ áp lực. Thị giác thoáng qua (visual aura) cũng được mô tả ở bệnh nhân đau nửa đầu tiếp diễn đáp ứng với indomethacin. Trong 3/4 bệnh nhân, đau đầu ice-pick xảy ra trong suốt vài giai đoạn nặng lên. Dù là kéo dài, khoảng 1/3 bệnh nhân mô tả đau đầu kiểu từng cơn với một cơn đau kéo dài từ nhiều tuần đến nhiều tháng và tách rời bởi giảm đau tự nhiên.

    Đau đầu như dao đâm nguyên phát:

    Đau đầu như dao đâm nguyên phát hoặc tự phát không phổ biến và hiếm gặp, đặc trưng bởi cơn đau như dao đâm ngắn (1-2 giây) ở một hoặc hai vị trí khác nhau từ một vùng trên đầu lan đến vùng khác. Đó là rối loạn đau đầu nguyên phát lành tính, thông thường khởi đầu trong suốt giai đoạn trung niên đến lớn tuổi (trung bình 47 tuổi).

    Những đặc điểm lâm sàng chính:

    - Kịch phát tại một hoặc nhiều vị trí trên đầu, đau thường không thay đổi vị trí.

    - Tần suất cơn khác nhau.

    - Hầu hết trường hợp là bất thường một hoặc hai bên bên thái dương .

    - Rất ít các triệu chứng hoặc các dấu hiệu đi kèm.

    - Cùng với các đau đầu khác (migrain, đau đầu từng cụm, CPH, đau nửa đầu tiếp diễn) trên 50% trường hợp có hoặc không có xảy ra ở thái dương.

    - Nữ chiếm đa số.

    - Đáp ứng một phần hoặc hoàn toàn với indomethacin.

    Trong trường hợp hiếm, các cơn đau hàng loạt lặp đi lặp lại và dai dẳng.

    Đau đầu liên quan giấc ngủ:

    Hội chứng đau đầu liên quan giấc ngủ là rối loạn đau đầu nhẹ, tái diễn ngắn, xảy ra duy nhất trong suốt giấc ngủ và thường sau 50 tuổi. Đau đầu xảy ra ít nhất bốn đêm trong tuần và thời gian thường cố định mỗi đêm. Đau đầu với cường độ trung bình, có thể hai bên hoặc một bên, và phổ biến nhất ở giới nữ (3:1). Không giống đau đầu từng cụm, cũng xảy ra thường xuyên trong suốt đêm ngủ, đau đầu liên quan giấc ngủ không đi kèm các triệu chứng thần kinh tự chủ như chảy nước mắt, chảy nước mũi. Không phổ biến nhưng có thể xuất hiện buồn nôn, sợ ánh sáng, sợ tiếng ồn. Nhìn chung, đau đầu kéo dài dưới 60 phút, mặc dù vài bệnh nhân mô tả đau đầu kéo dài tới 6 giờ. Các bệnh nhân thường nhận thấy rằng nâng giường cao lên làm giảm đau, ngược lại nằm ngửa làm tăng đau và có thể đau kéo dài.

    Lithium luôn luôn điều trị hiệu quả, nhưng không phải tất cả bệnh nhân, đặc biệt là những người lớn tuổi, có thể chịu được tác dụng phụ của thuốc. Ca-phê-in, flunarizin và atenolol cũng được biết có hiệu quả điều trị cho vài bệnh nhân. Gần đây, indomethacin được tìm thấy có hiệu quả điều trị cho vài bệnh nhân đau đầu liên quan giấc ngủ.

    Không thể phủ nhận đau đầu liên quan giấc ngủ là một hiện tượng hiếm được biết như hội chứng đầu nổ tung (the exploding head syndrome). Bệnh nhân bị thức giấc do một hoặc vài nguyên nhân, bởi tiếng ồn lớn như tiếng nổ lớn trong đầu, thỉnh thoảng do đèn sáng. Đây không phải là một kinh nghiệm đau, dù chứng cớ không chính xác có thể gọi là nhức dầư hoặc đau đầu. Chưa biết nguyên nhân và cách điều trị, nhưng đau đầu xảy ra hoàn toàn nhẹ.

    Một số đặc điểm lâm sàng giúp chẩn đoán phân biệt các loại đau đầu ngắn nguyên phát, xin xem hình.

    Đặt lịch khám

    Copyright 2024® by SAIGON MEDIC. All rights reserved.

    Các thông tin trên website saigonmedic.com chỉ dành cho mục đích tham khảo, tra cứu. Khuyến nghị Quý khách hàng không tự ý áp dụng, nên liên hệ bác sĩ để được tư vấn.